🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường (1930-2026)

1 giờ trước

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường

- Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh

- Chứng minh Đạo sư hệ phái Khất sĩ

Thân thế và thời niên thiếu

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường, thế danh Nguyễn Văn Khảm, sinh ngày 25-3-1930 (Canh Ngọ) tại Rạch Bà Khôi, ấp Phú An, tổng An Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là Đồng Tháp).

Ngài sinh trưởng trong một gia đình thuần nông, hiền lương, chất phác, giàu đạo đức. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Hiệu (pháp danh Thiện Phước), thân mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Lúa (năm 1965, cụ bà xuất gia với pháp danh Thích nữ Minh Liên). Ngài là người con thứ tám trong gia đình có 9 anh, chị, em.

Tuổi thơ của ngài gắn liền với ruộng đồng, sông nước miền Tây Nam Bộ. Sau khi học hết lớp Ba trường làng, ngài ở nhà phụ giúp gia đình làm ruộng và sau đó học nghề cắt tóc. Cuộc sống mộc mạc, cần lao đã hun đúc đức tính nhẫn nại, khiêm cung và bền bỉ - những phẩm chất quý giá âm thầm nâng đỡ con đường tu tập của ngài về sau.

Nhân duyên xuất trần và được Tổ sư Minh Đăng Quang thọ

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường khi còn trẻ. Sự hiện diện của ngài là nhân chứng sống, khi có phước duyên diện kiến, hầu cận Tổ sư Minh Đăng Quang, được Tổ sư thọ ký pháp danh Giác Tường khi còn hình tướng người cư sĩ

Nhân duyên xuất trần của ngài ảnh hưởng túc duyên từ người em gái út sớm xả tục xuất gia năm 16 tuổi (pháp danh Đàn Liên). Đời sống phạm hạnh, thanh thoát của vị Khất sĩ Ni đã cảm hóa sâu sắc nhận thức của bà con xóm giềng, đặc biệt là trong dòng tộc. Hạt giống Bồ-đề cũng từ đó âm thầm đơm chồi trong tâm ngài.

Dù vậy, nhân duyên thù thắng thực sự khai mở, chuyển hóa là vào một lần đi ngang qua Linh Phước tự. Chứng kiến thiện tín vân tập đông đảo, ngài bước vào và lần đầu tiên được thính pháp, đảnh lễ Tổ sư Minh Đăng Quang. Hình ảnh vị Sa-môn Khất sĩ oai nghi đĩnh đạc, phong thái thoát tục, thong dong vô ngại đã chấn động mạnh mẽ và thức tỉnh tâm thức ngài.

Chỉ một lần hội ngộ, thiện căn nhiều đời được điểm hóa, thấu tỏ nẻo đạo. Từ ấy, ngài lặng lẽ nuôi chí xuất trần. Khắc ghi lời dạy dung dị mà diệu huyền của Tổ sư: “Ai tu nấy đắc”, ngài miên mật vun bồi nội lực, rèn luyện chí nguyện kiên cố, tĩnh tâm đợi nhân duyên chín muồi mới thong thả bước lên đường giải thoát. Khi chí nguyện đã quyết, ngài đê đầu đảnh lễ song thân ba lạy, thâm tạ ân sinh thành dưỡng dục, buông xả duyên trần, từ giã cõi tục, cất bước tầm đạo.

Khi vừa rời nhà, nghe tin Tổ sư Minh Đăng Quang đang hoằng hóa tại tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc), ngài tìm đến đảnh lễ và xin lưu lại tịnh xá làm công quả. Những ngày tháng dầm sương dãi nắng lao tác công quả, phước duyên lớn được kề cận Tổ sư: Ngài xắn đất dưới ao đưa lên, Sư Tổ tự tay bê đất đắp nền, kiến tạo tịnh xá Ngọc Quang với mây tre lá đơn sơ. Công việc dẫu nhọc nhằn, nhưng lại là suối nguồn hỷ lạc vô biên, trở thành ký ức thiêng liêng theo ngài suốt cuộc đời.

Chính nhân duyên thù thắng ấy, dẫu còn hình tướng cư sĩ, ngài đã được Tổ sư Minh Đăng Quang thọ ký pháp danh Giác Tường. Đây là sự ấn chứng lặng thầm, sâu sắc từ vị Tổ sư dành cho đệ tử.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu của các phân đàn biệt truyền hệ phái Khất sĩ của Giáo hội và Giới đàn phương trượng của hệ phái

Xuất gia tu học, thọ giới và lan tỏa chúng tánh Bồ-đề

Vào ngày rằm tháng 3 năm Giáp Ngọ (1954), tâm Bồ-đề chính thức đơm hoa. Ngài được bà thí chủ đưa đến tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc) đảnh lễ Trưởng lão Hòa thượng Giác Như dâng lời thỉnh cầu xuất gia. Sau khi nghiêm cẩn khảo hạch duyên khởi phát tâm cùng các điều kiện cơ bản của người xuất gia, Trưởng lão tri sự từ bi hứa khả, hoan hỷ thu nhận và cử hành thế phát.

Đến 3 giờ chiều cùng ngày, Trưởng lão tri sự đưa ngài về tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) thỉnh cầu Giáo hội chứng minh và chính thức thẩm nhận pháp danh Giác Tường. Khi ấy, ngài tròn 24 tuổi.

Qua nửa tháng tinh tấn công quả và miên mật tịnh tu, nhân duyên tròn đủ, ngày 30-3-Giáp Ngọ (1954), tại đạo tràng tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long), ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa-di. Từ đó, ngài theo hầu cận Bổn sư cùng quý tôn đức vân du hóa độ khắp mọi miền.

Trải qua bốn năm thúc liễm thân tâm, trau dồi oai nghi tế hạnh và trọn lễ hầu thầy, làm tròn bổn phận một vị Sa-di, vào mùa Vu lan năm Mậu Tuất (15-7-1958), tại tịnh xá Liên Trung (Cần Thơ), ngài thọ Cụ túc giới. Được Bổn sư từ bi đồng thuận và đại chúng Tỳ-kheo thanh tịnh tác pháp chứng minh, ngài chính thức dự vào hàng Tăng bảo, trở thành một bậc Sa-môn Khất sĩ, nối tiếp mạng mạch Tổ Thầy.

Một điểm son sáng ngời trong cuộc đời hành đạo của ngài chính là sự lan tỏa chủng tánh Bồ-đề thâm sâu đến gia quyến, khi có thêm nhiều vị xả tục xuất gia, học đạo giải thoát. Trong đó, đặc biệt có thân mẫu của ngài (Sư bà Minh Liên), cùng chư vị tôn túc Ni: Sư cô Cẩn Liên, Sư cô Thiện Liên, Sư cô Mỹ Liên, Sư cô Tâm Phương và Hòa thượng Giác Nghiêm. Đây quả thật là phước báu vô lượng, đồng thời là minh chứng sinh động cho năng lực cảm hóa từ bi trí tuệ của những bậc chơn tu giải thoát.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường ban đạo từ tại khóa lễ dâng y tại tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh)

Đạo nghiệp và gánh vác Phật sự

Sau khi lãnh thọ giới pháp Tỳ-kheo, ngài cùng quý tôn đức trong đoàn du tăng Khất sĩ cất bước vân du, hành đạo khắp các tỉnh, thành Nam Trung nước Việt. Từ các đạo tràng tịnh xá: Ngọc Viên (Vĩnh Long), Ngọc Minh (Cần Thơ), Ngọc Quang (Sa Đéc), Ngọc Đông (Tân Hòa Đông), Ngọc Tường (Mỹ Tho), Ngọc Chánh (Gia Định), Trung Tâm (Gia Định) đến các tỉnh thành Khánh Hòa, Phú Yên, Huế... đâu đâu cũng in đậm dấu chân hoằng pháp độ sanh của ngài.

Với chất giọng hùng hồn, đậm nét hào sảng của người Nam Bộ, ngài là một trong những vị pháp sư thuyết giảng kinh pháp nổi danh trong đoàn du tăng Khất sĩ thời bấy giờ. Mang chí nguyện Đại thừa, ngài luôn vô úy dấn thân, không nề hà gian khó, nhọc nhằn, nguyện đem ánh sáng Chánh pháp rọi soi đến mọi nẻo đường.

Sau một thời gian lui về vùng biển Vũng Tàu tịnh tu, năm 1960, vâng lời Bổn sư chỉ dạy, ngài cùng với Hòa thượng Thích Giác Nhu đồng tâm hiệp lực hỗ trợ Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên hoằng dương Chánh pháp, mở mang mối đạo.

Đặc biệt, vào năm 1964, trước những biến chuyển của thời cuộc, Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên vận động ngài cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu đệ đơn xin sáng lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam. Khi pháp lý thành lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam được thông qua (năm 1966), ngài cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu thỉnh cầu Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên nhận lãnh trách nhiệm Tổng Trị sự trưởng, ngài gánh vác trọng trách Phó Tổng Trị sự. Đây là giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt. Bằng tâm nguyện hy hiến cho Đạo pháp, ngài đã dốc trọn tâm huyết vào các Phật sự quan trọng, góp công đức vô lượng trong việc kiến tạo, củng cố và đặt nền móng vững chắc cho sự hưng thịnh, phát triển của hệ phái Khất sĩ.

Cố Trưởng lão Hòa thượng cùng Tăng chúng trong một thời tọa thiền

Sau năm 1978, khi Hòa thượng Pháp sư Thích Giác Nhiên du phương hoằng hóa tại hải ngoại, ngài an nhiên lưu lại quê nhà, thường trụ tại tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh) và trở thành cội tùng bách vững chắc làm điểm tựa tinh thần cho đại chúng.

Ngài kề vai sát cánh cùng Hòa thượng Thích Giác Nhu làm tròn sứ mệnh nòng cốt, dốc lòng hỗ trợ quý chư tôn túc: Hòa thượng Thích Giác Phúc, Hòa thượng Thích Giác Ngộ, Hòa thượng Thích Giác Toàn... chung tay lèo lái, ổn định Giáo đoàn và hệ phái Khất sĩ, từng bước vượt qua khúc quanh thời đại, hội nhập và phát triển trong giai đoạn lịch sử mới của đất nước. Sự gắn bó khắng khít, đồng tâm đồng nguyện trong mọi Phật sự của hai bậc long tượng được giữ gìn trọn vẹn, sắt son cho đến tận ngày Hòa thượng Thích Giác Nhu thâu thần thị tịch (1997).

Tập hồi ký “Dưới mái nhà xưa” của Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường ra mắt năm 1965

Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường là bài pháp vô ngôn về hạnh xả ly và thoát tục.

Suốt 97 năm trụ cõi ta bà, 67 hạ lạp, hoằng hóa độ sanh, ngài luôn tĩnh tại an nhiên, không vướng bận lợi danh hay quyền vị. Ngài một lòng kiên trung, nhiệt huyết với đường lối của Tổ Thầy, thủy chung với hạnh Khất sĩ thanh bần đơn giản.

Trên cương vị là Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh GHPGVN và Chứng minh Đạo sư hệ phái Khất sĩ, Trưởng lão Hòa thượng thực sự là bóng đại thụ tòng lâm rợp mát, chở che cho đàn hậu học. Ngài đảm nhận Hòa thượng Đàn đầu của các phân đàn biệt truyền hệ phái Khất sĩ của Giáo hội và Giới đàn phương trượng của hệ phái.

Thời kỳ tịnh dưỡng và viên tịch

Từ năm 2020, dẫu sắc thân tứ đại dần hiện tướng suy hao theo định luật vô thường, nhưng tinh thần của Trưởng lão Hòa thượng vẫn luôn sáng suốt và khinh an. Thấu triệt lẽ huyễn mộng của kiếp nhân sinh, ngài lùi dần các công tác Phật sự, an trú tịnh dưỡng tại tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh). Tùy thuận theo huyễn thân khiếm an, ngài vắng dần các kỳ hội nghị của Hội đồng Chứng minh hay các sự kiện trọng đại của hệ phái. An nhiên tự tại trước lẽ sanh diệt, ngài rất hiếm khi thăm khám y tế hay nằm viện, giữ trọn cốt cách thiểu dục tri túc của bậc chơn tu.

Đến năm 2025, khi niên cao lạp trưởng, đáp lời thành tâm kiền thỉnh của chư tôn đức lãnh đạo Giáo đoàn, ngài hoan hỷ dời về pháp viện Minh Đăng Quang tịnh dưỡng, tạo duyên lành cho môn đồ tứ chúng tiện bề chăm sóc, hiếu kính phụng dưỡng.

Thời gian trôi qua, thân tứ đại ngày một suy hao, nhưng ngài vẫn luôn sáng suốt chánh niệm. Mấy phen các bác sĩ tận tâm tới nơi thăm khám, trị liệu thuốc thang, sức khỏe ngài cải thiện ít nhiều, nhưng cũng không thể cản ngăn được quy luật vô thường của tạo hóa.

Với đạo hạnh thanh cao cùng nụ cười từ ái, bình dị của bậc chân tu tịnh hạnh, Trưởng lão Hòa thượng Thích Giác Tường mãi là ngọn đèn thiền bất diệt, lung linh tỏa sáng và sống mãi trong tâm thức Tăng Ni, tín đồ hệ phái Khất sĩ và Phật giáo VN

Đầu năm 2026, bước qua tuổi 97, bệnh già càng lúc càng suy kiệt, chư Tăng thỉnh ngài nhập viện. Ngài hoan hỷ nhận lời và đây là lần nhập viện hiếm hoi trong đời của Trưởng lão Hòa thượng. 9 ngày sau, ngài bình phục, được xuất viện về tịnh xá.

Đến ngày 30-4-2026, bệnh của Trưởng lão Hòa thượng trở nặng, chư Tăng thỉnh ngài nhập viện, mặc dù các y - bác sĩ tận tâm điều trị, môn đồ hết lòng lo toan, nhưng sức khỏe của ngài dần lụi tàn theo thời gian. Đến 19 giờ ngày 4-5-2026, sau khi hội ý của bệnh viện cùng chư tôn đức lãnh đạo, môn đồ làm thủ tục xuất viện, đón ngài về pháp viện Minh Đăng Quang.

Hóa duyên đã mãn, Phật sự một đời đã tròn xong, dầu cạn lửa tắt, ngài an nhiên thâu thần viên tịch vào lúc 20 giờ 25 phút, ngày 18-3-Bính Ngọ (nhằm ngày 4-5-2026); trụ thế: 97 năm, 67 hạ lạp.

(BTV Báo Giác Ngộ biên tập từ thông tin Ban Tổ chức Lễ tang cung cấp)

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ