🔍
Chuyên mục: Du lịch

Thương cảng xứ Đàng Trong

1 giờ trước
Hơn hai thế kỷ cầm quyền ở Đàng Trong (1558 - 1777), các chúa Nguyễn đã thực hiện một chính sách mở cửa giao thương với các quốc gia lân bang để phát triển kinh tế. Đồng thời, kỷ nguyên 'đại thương mại' với sự bùng nổ của thương mại hàng hải thế giới trong các thế kỷ 16 - 17 đã tạo tiền đề để hình thành một loạt thương cảng dọc cửa sông, cửa biển vùng duyên hải miền Trung Việt Nam.

Hội An từng là thương cảng nhộn nhịp bậc nhất ở xứ Đàng Trong. Ảnh: NGUYỄN SANH QUỐC HUY

Sự phục hưng các cảng thị cổ của Vương quốc Champa

Lãnh thổ của Vương quốc Champa xưa là vùng đất trải dài từ bắc Quảng Trị cho tới đông Lâm Đồng ngày nay. Vương quốc này được hợp thành từ những tiểu quốc (mandala) tồn tại dọc hai bờ các dòng sông lớn trong vùng.

Một mạng lưới trao đổi thương mại ven sông được hình thành, mà tâm điểm là các cảng thị ở nơi những dòng sông gặp biển. Đây cũng là những thương trạm giữ vai trò trọng yếu trong nền hải thương Champa vào các thế kỷ 9 - 12.

Khi người Việt vào tiếp quản vùng đất này, những cảng thị Champa vốn đã tàn lụi bởi thời gian và nạn binh đao lại được phục hưng nhờ chính sách kinh tế hướng ngoại của các chúa Nguyễn.

Kết quả khai quật khảo cổ học tại các cảng thị cổ ở miền Trung như: Ròn, Tùng Luật, Mai Xá (Quảng Trị), Thanh Hà, Bao Vinh (Huế), Hội An (Đà Nẵng), Nước Mặn (đông Gia Lai)… cho thấy, ngoài những mảnh gốm Chăm, những hạt mã não và đá quý mang đậm dấu ấn văn hóa Champa trong các thế kỷ 11 - 12, còn có đồ gốm mậu dịch của Đại Việt, Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La… có niên đại vào các thế kỷ 16 - 18.

Vì thế, cố GS. Trần Quốc Vượng đã cho rằng: “thế kỷ 17 là thời kỳ phục hưng của các cảng thị miền Trung” và phần lớn các cảng thị từ Quảng Trị trở vào “đều có sự chuyển hóa từ cảng Chàm sang cảng Việt”.

Những thương trạm trên con đường gốm sứ xuyên Thái Bình Dương

Ba trong số những thương cảng hoạt động nhộn nhịp và sầm uất nhất ở Đàng Trong thời kỳ này là: Thanh Hà (nay thuộc Huế), Hội An (nay thuộc Đà Nẵng) và Nước Mặn (nay thuộc Gia Lai).

Thương cảng Thanh Hà nằm ở tả ngạn sông Hương, cách cửa biển Thuận An khoảng 10 km, có lòng sông sâu và rộng, thuận lợi cho việc hình thành một cảng sông sâu trong nội địa.

Khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm. Nguồn TTQLBTDSVHTGHA

Từ đầu thế kỷ 17, nơi đây trở thành trung tâm thương mại quan trọng nằm sát trung tâm chính trị Phú Xuân, đáp ứng nhu cầu chính trị, quân sự, kinh tế của nhà nước và nhu cầu tiêu dùng của cư dân địa phương, đồng thời là điểm kết nối giữa mạng lưới thương nghiệp nội vùng với hải thương Đông Á - Thái Bình Dương.

Từ cuối thế kỷ 16, Thanh Hà đã được các thương nhân Hoa kiều trên tuyến hải thương Trung Hoa - Nam Á biết đến. Trong nửa đầu thế kỷ 17, thương cảng đón các thương thuyền từ Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thái Lan... đến trao đổi hàng hóa.

Các thương nhân mang theo đồ đồng, gốm sứ, thuốc bắc, gấm vóc, vũ khí, diêm tiêu, đồ gia dụng... và thu mua các đặc sản như hồ tiêu, cau khô, quế, chè, đồi mồi, trầm hương để đưa về chính quốc hoặc tái xuất sang các thị trường khác.

Trong khi đó, Hội An từng là điểm giao thương quốc tế của Vương quốc Champa trước khi trở thành trung tâm giao dịch hàng hải lớn nhất Đàng Trong vào nửa đầu thế kỷ 17.

Nằm bên sông Thu Bồn, liền kề cửa Đại và được Cù Lao Chàm che chắn, Hội An có vị trí thuận lợi để phát triển thành một thương cảng trọng yếu: không quá xa thủ phủ chúa Nguyễn ở Thuận Hóa để các thương thuyền hải ngoại vẫn có thể giao hảo với chính quyền khi cần, nhưng cũng không quá gần để bảo đảm an ninh.

Mặt khác, Hội An thuộc Đàng Trong và cách xa Trung Hoa đại lục, tạo điều kiện cho thương nhân Hoa kiều cập bến mua bán mà không sợ bị bắt bớ, trừng phạt do lệnh “bế môn tỏa cảng” (hải cấm) do Minh triều ban hành từ năm 1371 và duy trì đến tận năm 1567.

Nhờ những lợi thế đó, Hội An thu hút đông đảo thương nhân Hoa kiều, Nhật Bản đến buôn bán, sinh sống, hình thành các phố Nhật, phố Khách; sau đó, các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan… cũng đến lập thương điếm để giao thương lâu dài.

Gốm Chu Đậu (nửa sau thế kỷ XV), khai quật trên tàu đắm Cù Lao Chàm (khai quật năm 1997-1999), những minh chứng về vai trò của các cảng thị ở miền Trung Đại Việt trên “con đường gốm sứ” xuyên biển Đông. Ảnh: TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Thuyền buôn nước ngoài mang đến các mặt hàng như vải vóc, giấy, đồ đồng, đồ gỗ, thực phẩm, dược phẩm và đặc biệt là gốm sứ; ngược lại, Hội An xuất khẩu gỗ, sừng tê giác, ngà voi, trầm hương, yến sào, hải sản, nông phẩm và hàng thủ công.

Đặc biệt, Hội An là một thương trạm quan trọng trên “con đường gốm sứ” xuyên Thái Bình Dương. Trong thời kỳ đầu, đây là cửa ngõ xuất khẩu gốm Việt Nam sang Nhật Bản, tiêu biểu là những chén trà gốm Việt Nam mà người Nhật gọi là Nanban Shimamono hay An Nam hồng, hiện vẫn được hậu duệ gia tộc Tokugawa và gia tộc thương nhân Osawa Shirozaemon lưu giữ.

Thương cảng Nước Mặn nằm ở phía tây bắc đầm Thị Nại, cách thành Đồ Bàn - phủ lỵ Quy Nhơn trong các thế kỷ 17 - 18, khoảng ba dặm. Đây không chỉ là cửa khẩu thương mại của vùng Quy Nhơn - Bình Định mà còn là đầu mối giao thương của cả khu vực Tây Nguyên.

Nhờ nguồn sản vật phong phú như trầm hương, sừng tê giác, ngà voi, vàng, bạc, đồi mồi, bông, sáp, đường mộc, thóc gạo..., Nước Mặn thu hút đông đảo thương nhân trong và ngoài nước.

Với vụng biển sâu, kín gió, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu và giao thương, Nước Mặn trở thành một thương cảng phồn thịnh của Đàng Trong trong các thế kỷ 17 - 18, đồng thời là một thương trạm trên “con đường gốm sứ” xuyên Thái Bình Dương.

Hơn 200 năm trôi qua, các thương cảng xưa nay đã thành phế tích, nhưng dấu vết về một thời hoàng kim của các cảng thị này vẫn còn ẩn chứa trong lòng đất, đặc biệt là những chiếc tàu đắm chở đầy gốm sứ chìm trong lòng biển Đàng Trong vẫn luôn thu hút các nhà khảo cổ học tìm đến khai quật.

Còn những du khách có tấm lòng hoài cổ thì vẫn luôn mong mỏi tìm về nơi đây để trải nghiệm những gì đã trở thành dĩ vãng.

TRẦN ĐỨC ANH SƠN












Home Icon VỀ TRANG CHỦ