Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng
Cánh thư qua hai đầu nỗi nhớ
Có lẽ rất lâu rồi, ông Lê Chí Công (70 tuổi) mới có khoảng thời gian bận rộn và xúc động như những ngày tháng 7 năm nay. Tại công viên mang tên mẹ của ông, liệt sĩ, Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng, công việc tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính liệt sĩ vẫn đang khẩn trương, tích cực, đáp ứng niềm mong mỏi, chờ đợi của bao thân nhân gia đình liệt sĩ. Mẹ của ông vẫn còn nằm sâu dưới tấc đất tại công viên mang tên chính bà.
Ông Lê Chí Công đã nhiều lần tìm mẹ ở công viên, nhưng chưa có kết quả. Và cho đến tận hôm nay, ông vẫn tìm kiếm. 58 năm sau ngày bà hy sinh, người con trai vẫn luôn hy vọng một ngày nào đó sẽ được đón mẹ trở về trong vòng tay.

Lá thư gửi hai con trai của Anh hùng Lê Thị Riêng
Đôi mắt rưng rưng, đôi tay run run, ông Lê Chí Công lần giở cho chúng tôi xem những tập thư tay của mẹ, gửi hai anh em đang được học tập, nuôi dưỡng ở miền Bắc.
“Chánh và Công con trai cưng của mẹ. Lâu quá mẹ không nhận được thư và tin tức các con. Mẹ nhớ thương và lo lắng lắm. Năm nay con học lớp mấy rồi? Ở trường nào? Có ngoan không? Các con viết thơ cho mẹ nhé. Sức khỏe, chiều cao và cân nặng con bao nhiêu cho mẹ biết với nhé. Mẹ nhớ thương hai con…” - một trong những bức thư bà Lê Thị Riêng gửi hai con trai.
Ngoài những bức thư gửi con trai, người chiến sĩ cách mạng Lê Thị Riêng còn có một cuốn sổ tay để mỗi khi nhớ con, bà sẽ trải lòng mình vào những con chữ. Đó là những câu thơ khát khao mong chờ gặp con đến quặn thắt của người mẹ: Hà Nội ơi! Cho tôi đến Thủ đô/ Gặp hai con tôi ôm cả vào lòng/ Tôi riết mãi không bao giờ buông ra nữa...

Bức ảnh duy nhất gia đình liệt sĩ Lê Thị Riêng chụp chung trước ngày chia tay.
Sinh năm 1925 trên vùng đất Giá Rai, Bạc Liêu, Lê Thị Riêng lớn lên trong cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ khi tuổi đời còn rất nhỏ, tự bươn chải giữa một miền quê Nam Bộ còn chìm trong đói nghèo và áp bức. Chính những năm tháng cơ cực ấy đã hun đúc ở người thiếu nữ một ý chí mạnh mẽ khác thường.
Từ cô thợ dệt bình dị ở xưởng Láng Tròn, bà sớm tìm thấy con đường của mình trong phong trào cách mạng. Bà đã đi qua gần như mọi cấp độ mặt trận của công tác vận động phụ nữ, từ huyện Giá Rai đến Rạch Giá, từ miền Đông Nam Bộ đến toàn miền Nam...
Năm 1960, phong trào Đồng Khởi bùng nổ, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng miền Nam. Lê Thị Riêng được giao những trọng trách lớn hơn. Đó cũng là lúc bà phải đưa ra quyết định đau đớn nhất trong cuộc đời người mẹ.
Hai đứa con, đứa lớn mới lên 5, đứa nhỏ vừa tròn 4 tuổi, được gửi ra miền Bắc để bảo đảm an toàn và tiếp tục học tập. Ngày chia tay, không ai biết người mẹ ấy đã phải nuốt bao nhiêu nước mắt để mỉm cười tiễn các con lên đường.

Nét chữ trên những cánh thư của người mẹ dù hơn 60 năm vẫn còn nguyên nét mực.
Đêm ấy, ngày mồng 2 tháng 6 năm 1960, bà ngồi ghi tỉ mỉ biên những trang nhật ký về sức khỏe, tính nết hai con. Người mẹ sẽ gửi gắm núm ruột thương yêu của mình cho các đồng chí thay mình nuôi dạy các con.
Bà thức suốt đêm, cảm thấy thời gian quá ngắn ngủi. Mẹ con vừa mừng mừng tủi tủi gặp nhau, nay lại phải chia tay. Bà nhớ những ngày công tác gian khó ở miền Đông trong kháng chiến chống Pháp, rồi những ngày hiếm hoi vợ chồng, con cái gặp nhau.
Mỗi lần gặp lại các con, nhìn chúng đang thơ ngây ngon giấc cạnh nhau, gối đầu lên chiếc túi vải, người mẹ thấy lòng mình se lại. Trong chiếc túi vải ấy, có mấy bộ quần áo mới xinh xinh bà tự cắt may, bốn tập vở giấy trắng có dòng kẻ, tự tay bà đóng, xén.
Chí Công mới lên 4, giọng nói còn ngọng líu. Minh Chánh gửi nuôi từ khi mới bảy tháng tuổi, thường hay ra mồ hôi, nếu quên thay áo sẽ bị cảm lạnh. Sau những dòng nhật ký, lòng người mẹ lại trỗi dậy nỗi nhớ mà biến thành thơ:
Nhưng con hỡi, nước non còn chia cắt
Bởi kẻ thù tàn bạo gây ra
Bao gia đình tan nát điêu linh
Bao em bé đoạn tình mẫu tử
Mẹ chiến đấu cho ngày mai tươi sáng
Cho đất nước hòa bình
Cho mọi người no ấm quang vinh
Cho con được hưởng trọn tình thương của mẹ…
Như bao người mẹ Việt Nam khác trong chiến tranh, điều bà mong mỏi nhất là ngày đất nước hòa bình để gia đình được đoàn tụ.

Ông Lê Chí Công và mẹ.
Cầm lá thư trên tay, giọng nghẹn ngào xúc động, ông Lê Chí Công kể, mùa xuân năm 1968, ông biết tin mẹ hy sinh qua các thầy cô giáo trong trường học sinh miền Nam. Khi ấy, ông còn quá nhỏ để cảm nhận nỗi đau thương mất mát.
Anh hai Minh Chánh lớn hơn một chút thì òa khóc nức nở. “Anh ấy khóc cả ngày. Nhà trường đã tổ chức lễ mít tinh tưởng niệm sự hy sinh của mẹ tôi cùng đồng đội của mẹ. Các thầy cô, các bác lãnh đạo đã quan tâm, đưa tôi về nhà chăm sóc. Trong đó, tận tình nhất là mẹ Hai Khanh (Hoàng Thị Mai Khanh, vợ đồng chí Phạm Hùng). Tôi gọi là mẹ, vì bà đã thay mẹ tôi chăm sóc anh em chúng tôi những ngày ở miền Bắc”.
Mẹ hy sinh, cha cũng hy sinh, anh em ông Lê Chí Công từ đó sống trong vòng tay yêu thương, nuôi dưỡng của những người đồng chí với mẹ ở miền Bắc.
Tìm cha qua nhật ký của mẹ
Chồng liệt sĩ Lê Thị Riêng là Lê Văn Ba (Lê Trọng Tam), Phó chủ tịch Ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh Rạch Giá.
“Năm 1960, trước khi hai anh em tôi lên đường ra miền Bắc, gia đình tôi đã có khoảnh khắc đoàn tụ và chụp chung được một tấm ảnh. Đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Thời gian đã hơn 65 năm rồi, tôi không còn rõ khuôn mặt của ba cũng như hình bóng của ông như thế nào. Anh em tôi sau này biết về cuộc đời của ba qua những người thủ trưởng và đồng đội như đồng chí Phạm Hùng (Nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau này là Bộ Công an, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giai đoạn 1987–1988), đồng chí Trần Bạch Đằng, Bí thư Khu ủy Sài Gòn giai đoạn 1968 – 1971, sau giải phóng ông là Phó Trưởng Ban dân vận Trung ương), đồng chí Sáu Dân (Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) và đặc biệt là ông việt kiều Pháp tên Đinh Xuân Hoàng, thường gọi là ông Hai Tây. Ông ấy đã được ba tôi giác ngộ vào cách mạng nên xem ba như một người đồng chí nặng nghĩa ân tình. Ông Hai Tây kể, ba tôi là Phó chủ tịch Ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh Rạch Giá trẻ nhất của Nam Bộ nhưng tiếc rằng người chiến sĩ cách mạng đã hy sinh quá trẻ, khi ấy ông chỉ mới 39 tuổi”, ông Lê Chí Công chia sẻ.

Những lá thư chính là kỷ vật vô giá mẹ để lại cho anh em ông Lê Chí Công.
Sau ngày hòa bình, ông Công đã nhiều lần đi tìm mộ ba tại Dĩ An (Bình Dương cũ). “Tôi đi tìm ba theo cuốn nhật ký của mẹ. Mẹ đã ghi rất rõ, ba được chôn tại ấp Tây, xóm mộ Đông Hòa. Khi tìm đến, tôi thấy có tấm bia mộ ghi rõ thông tin liệt sĩ Lê Văn Ba. Tôi đã đi gặp người dân trong vùng, những người cán bộ lớn tuổi đã từng sống tại khu vực đó. Sau khi đối chiếu và xâu chuỗi thông tin, tôi xác định nấm mộ bia đó là ba của mình. Tôi xin phép chính quyền để đưa nắm đất có ba nằm về cùng với mẹ tại khu tập thể liệt sĩ tiêu biểu của nghĩa trang liệt sĩ thành phố. Giờ đây, trên phần mộ chung có tên liệt sĩ Lê Thị Riêng – liệt sĩ Lê Văn Ba”.
Một phần mộ chung của hai vợ chồng, là niềm an ủi tinh thần sau những mất mát của chiến tranh. Tuy nhiên, ông Lê Chí Công, người con trai còn sống duy nhất hiện nay của liệt sĩ Lê Thị Riêng vẫn còn nhiều đau đáu, trăn trở khi hài cốt mẹ mình vẫn chưa tìm thấy.
“Gần 60 năm qua, tôi chưa bao giờ thôi nhớ thương về mẹ. Lá thư mẹ đây, vết mực còn rõ nét. Tôi đã sống trong ký về mẹ từ những nét bút này và sẽ không ngừng hy vọng ngày được đón mẹ về trong vòng tay”, ông Lê Chí Công nghẹn ngào bộc bạch.
Ngọc Thiện
5 giờ trước
9 phút trước
Vừa xong
1 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
5 phút trước
9 phút trước
16 phút trước
20 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
31 phút trước
43 phút trước