🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thị trường vốn được kỳ vọng trở thành 'đòn bẩy' cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế

3 giờ trước
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030 đặt ra nhu cầu huy động nguồn vốn rất lớn, ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, chính sách tài chính được kỳ vọng trở thành 'đòn bẩy' quan trọng để khơi thông nguồn lực cho đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Áp lực lớn để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Chia sẻ tại hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Báo Lao Động phối hợp với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức chiều nay 12/3, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đồng thời hướng tới tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, tức tăng trưởng hai con số.

Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi nhận định: “Đây là một mục tiêu rất vĩ đại, rất tham vọng, không phải chỉ trong thời gian ngắn mà kéo dài trong nhiều năm”.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi phát biểu tại hội thảo

Theo ông, mục tiêu này đặt ra nhiều thách thức trong bối cảnh địa chính trị và kinh tế thế giới đang có nhiều biến động, đòi hỏi Việt Nam phải huy động nguồn lực rất lớn cho đầu tư phát triển.

Dù vậy, năm 2025 nền kinh tế đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục trên 930 tỷ USD. Bên cạnh đó, vốn đầu tư công thực hiện cả năm ước đạt 850.700 tỷ đồng, mức cao nhất trong 5 năm qua.

Tổng khối lượng huy động vốn trên thị trường đạt trên 1,15 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, huy động vốn trái phiếu đạt trên 1 triệu tỷ đồng, còn huy động vốn cổ phiếu đạt trên 150.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Bộ Tài chính, những kết quả này mới chỉ là nền tảng ban đầu, trong khi nhu cầu vốn cho giai đoạn tới còn rất lớn.

“Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển giai đoạn tới rất lớn, đặc biệt là nguồn vốn cho các dự án hạ tầng chiến lược, kết nối Bắc – Nam, kết nối khu vực và quốc tế”, Thứ trưởng Chi cho biết.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần nguồn lực lớn để duy trì hoạt động và mở rộng đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động.

“Quy mô thị trường vốn trong nước còn khiêm tốn, hệ thống các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp chưa đa dạng, các quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ hưu trí hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng”, Thứ trưởng Bộ Tài chính phân tích.

Cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), kinh tế thế giới hiện đang trải qua giai đoạn chuyển đổi sâu rộng về mô hình tăng trưởng, trật tự thương mại và cấu trúc tài chính. Các báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF và Ngân hàng Thế giới cho thấy, tăng trưởng toàn cầu đang duy trì ở mức thấp hơn so với giai đoạn trước đại dịch. Lãi suất ở mức cao, trong khi rủi ro nợ công và biến động địa chính trị gia tăng.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026–2030 nhằm tạo nền tảng trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính)

Bà Tâm cho rằng, để duy trì tăng trưởng hai con số, nền kinh tế cần đồng thời mở rộng quy mô đầu tư và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Theo ước tính, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021–2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng). Điều này đồng nghĩa với việc vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, đồng thời nâng tỷ lệ đầu tư trên GDP từ khoảng 33% lên khoảng 40%.

Hiện nay, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức 32–34% GDP, vốn đã khá cao đối với một nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, so với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao, mức đầu tư của Việt Nam vẫn còn khoảng cách. Hàn Quốc từng duy trì tỷ lệ đầu tư 35–38% GDP, Singapore 35–40% GDP, trong khi Trung Quốc đạt 40–45% GDP trong nhiều năm. Do đó, bên cạnh việc tăng quy mô vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn cũng phải được cải thiện mạnh mẽ.

Chính phủ đặt mục tiêu giảm hệ số ICOR từ mức 6,3 giai đoạn 2021–2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026–2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn đầu tư để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước đây.

Về cơ cấu nguồn vốn, vốn đầu tư nhà nước cần tăng bình quân 22%/năm, vốn khu vực ngoài nhà nước tăng khoảng 20%/năm, còn vốn đầu tư nước ngoài tăng khoảng 18%/năm.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, cơ cấu này cho thấy, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà cần sự bứt phá của khu vực tư nhân và dòng vốn FDI chất lượng cao.

“Trong thời gian tới, yêu cầu đa dạng hóa nguồn lực và phát huy tối đa vai trò khu vực tư nhân sẽ rất quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số”, bà Tâm nhấn mạnh.

Phát triển thị trường vốn và chính sách tài chính làm “đòn bẩy”

Để đáp ứng nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế, đại diện Bộ Tài chính cho rằng, chính sách tài chính cần được điều hành theo hướng linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm ổn định vĩ mô. Trong đó, một định hướng quan trọng là thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn tài chính.

Hội thảo thu hút sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan quản lý, chuyên gia kinh tế, tổ chức tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư cùng đại diện cộng đồng doanh nghiệp

Ngân sách nhà nước sẽ tiếp tục đóng vai trò chiến lược, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao như hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số. Đồng thời, việc phát triển thị trường vốn hiện đại, minh bạch và an toàn được xem là yếu tố then chốt. Mục tiêu đặt ra là quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt ít nhất 100% GDP vào năm 2026.

Các giải pháp bao gồm nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường cổ phiếu, thúc đẩy hoạt động IPO gắn với niêm yết và đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu cũng sẽ được củng cố, trong đó thị trường trái phiếu Chính phủ đóng vai trò chuẩn tham chiếu cho toàn bộ thị trường tài chính. Việc phát hành trái phiếu xanh được khuyến khích nhằm thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, vốn đầu tư nước ngoài vẫn là một trong ba trụ cột quan trọng trong tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030. Do đó, chính sách tài chính cần thu hút có chọn lọc các dự án FDI chất lượng cao, đồng thời thúc đẩy kết nối giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi giá trị.

“Trọng tâm là cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình phê duyệt dự án, bảo đảm tính ổn định chính sách và thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong cả khu vực công và tư”, bà Tâm cho biết.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, cùng kỷ luật tài khóa nghiêm minh và sự phát triển của thị trường vốn hiện đại, chính sách tài chính được kỳ vọng sẽ trở thành đòn bẩy chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Cẩm Tú/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN























Home Icon VỀ TRANG CHỦ