Phát triển thị trường vốn – động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Nhu cầu vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Đức Chi, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, giai đoạn 2026–2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Đây là một mục tiêu rất tham vọng, đòi hỏi phải huy động nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực vẫn còn nhiều biến động khó lường. Thực tế cho thấy, trong năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực. Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 930 tỷ USD – mức cao kỷ lục từ trước đến nay. Cùng với đó, vốn đầu tư công thực hiện cả năm đạt khoảng 850,7 nghìn tỷ đồng, cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây.
Đáng chú ý, tổng khối lượng huy động vốn trên thị trường năm 2025 đạt hơn 1,15 triệu tỷ đồng, trong đó huy động vốn qua thị trường trái phiếu đạt hơn 1 triệu tỷ đồng và qua cổ phiếu đạt trên 150 nghìn tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Chi, Thứ trưởng Bộ Tài chính phát biểu tại Hội thảo, ảnh: Hải Nguyễn
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với những thách thức lớn trong giai đoạn tới. Nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng chiến lược, đặc biệt là các dự án kết nối Bắc – Nam, kết nối khu vực và quốc tế, đang ngày càng gia tăng. Không chỉ khu vực nhà nước, bản thân các doanh nghiệp cũng cần nguồn lực lớn để duy trì hoạt động trong bối cảnh kinh tế biến động, đồng thời đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, quy mô thị trường vốn trong nước vẫn còn khiêm tốn, hệ thống các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi so với giai đoạn 2021–2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng). Điều này đồng nghĩa với việc vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân khoảng 16% mỗi năm, đồng thời tỷ lệ đầu tư trên GDP cần được nâng từ khoảng 33% hiện nay lên khoảng 40% trong giai đoạn tới.
Mặc dù tỷ lệ đầu tư của Việt Nam hiện nay tương đối cao so với nhiều nền kinh tế đang phát triển, song nếu so sánh với các quốc gia từng duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài như Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc, quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn chưa đủ để tạo ra những bước bứt phá mạnh mẽ.
Do đó, bên cạnh việc gia tăng quy mô vốn đầu tư, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là yêu cầu mang tính quyết định. Chính phủ đặt mục tiêu giảm hệ số ICOR từ mức bình quân khoảng 6,3 trong giai đoạn 2021–2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026–2030. Điều này có nghĩa là cần nâng cao đáng kể hiệu quả của quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực trong nền kinh tế. Theo TS. Nguyễn Minh Phong, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, việc huy động và phân bổ vốn trong nền kinh tế hiện nay vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn.

Toàn cảnh Hội thảo, ảnh: Hải Nguyễn
Một trong những hạn chế lớn là nội lực tài chính của khu vực doanh nghiệp còn tương đối yếu. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế và chủ yếu hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp có vốn nhỏ. Điều này khiến khả năng huy động vốn thông qua thị trường cổ phiếu hoặc các hình thức góp vốn rộng rãi còn nhiều hạn chế.
Khi nội lực tài chính chưa đủ mạnh, doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng quy mô đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh. Điều này làm giảm khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Bên cạnh đó, thị trường vốn của Việt Nam, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của nền kinh tế. Mặc dù thị trường đã có những bước phát triển trong thời gian qua, song mức độ đa dạng của sản phẩm đầu tư cũng như mức độ tin cậy của thị trường vẫn còn hạn chế.
Một số vụ việc xảy ra trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong thời gian gần đây đã ảnh hưởng nhất định đến niềm tin của nhà đầu tư. Khi niềm tin thị trường chưa được củng cố đầy đủ, khả năng huy động vốn qua các kênh thị trường cũng bị hạn chế.
Dư địa phát triển thị trường vốn còn rất lớn
Ở góc độ dài hạn, nhiều chuyên gia cho rằng thị trường vốn Việt Nam vẫn còn dư địa phát triển rất lớn. Theo ông Trần Hiếu, Trưởng phòng phát triển kinh doanh của Quỹ đầu tư Mirae Asset (Việt Nam), nền kinh tế Việt Nam đang sở hữu nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của thị trường tài chính. Sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu cùng với cơ cấu dân số vàng, khi hơn 60% dân số nằm trong độ tuổi lao động đang tạo ra nền tảng quan trọng cho sự mở rộng của thị trường vốn.
Ba yếu tố gồm tăng trưởng kinh tế ổn định, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu và cơ cấu dân số thuận lợi thường được xem là những điều kiện cơ bản của các thị trường mới nổi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế. Xét về quy mô, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có giá trị vốn hóa tương đương khoảng 85% GDP. So với các thị trường phát triển hơn trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia, nơi vốn hóa thị trường đã vượt mức 100% GDP, quy mô thị trường vốn của Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể.
Một yếu tố khác thể hiện tiềm năng phát triển của thị trường là cơ sở nhà đầu tư trong nước. Hiện nay, tỷ lệ dân số tham gia đầu tư chứng khoán tại Việt Nam mới ở mức khoảng 8 - 10%. Trong khi đó, tại các thị trường phát triển hơn ở châu Á như Hàn Quốc hay Đài Loan (Trung Quốc), tỷ lệ này vào khoảng 35 - 40%. Sự chênh lệch này cho thấy dư địa mở rộng của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất lớn khi ngày càng nhiều nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường.
Để thị trường vốn thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, các cơ quan quản lý đang triển khai nhiều giải pháp nhằm phát triển thị trường theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.
Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm, một trong những định hướng quan trọng là phát triển thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu theo hướng hiện đại, minh bạch, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chính sách tài khóa được định hướng theo hướng mở rộng hợp lý, có trọng tâm và phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số ngày càng lớn, mô hình hợp tác công – tư (PPP) cũng được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ quan trọng để huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho đầu tư phát triển.
Quỳnh Trang
30 phút trước
45 phút trước
55 phút trước
2 giờ trước
3 giờ trước
2 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
49 phút trước
53 phút trước
56 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước