🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thị trường dầu mỏ trước những phép thử mới về nguồn cung

1 giờ trước
Thị trường dầu mỏ không còn chỉ quan tâm liệu eo biển Hormuz có mở lại hay không. Thay vào đó, thị trường tập trung vào tốc độ, quy mô và tính bền vững của quá trình phục hồi, cũng như khả năng duy trì tuyến xuất khẩu qua Biển Đỏ của Ả Rập Xê-út khi xuất khẩu từ vịnh Ba Tư vẫn suy giảm.

(Ảnh minh họa)

Rystad Energy xây dựng nhiều kịch bản để đánh giá ảnh hưởng đến giá dầu, gồm cả trường hợp gián đoạn kéo dài ở vùng Vịnh và xung đột leo thang tại eo biển Bab el-Mandeb.

Janiv Shah, Phó Chủ tịch Thị trường Dầu mỏ của Rystad Energy, nhận định: "Dù lưu lượng dầu qua eo biển đã giảm mạnh từ tháng 3, thị trường vẫn hấp thụ được nhờ rút tồn kho, chuyển sang các tuyến cung ứng thay thế và sử dụng công suất dự phòng.

Câu hỏi lớn hiện nay là những yếu tố này còn có thể bù đắp thiếu hụt nguồn cung trong bao lâu.

Thị trường không còn định giá rủi ro chỉ dựa trên địa chính trị mà tập trung vào khả năng duy trì dòng chảy dầu thực tế.

Nếu gián đoạn tiếp diễn, giá dầu có nhiều khả năng tăng hơn so với giai đoạn đầu xung đột. Phần lớn công suất dự phòng toàn cầu đã được sử dụng, trong khi tồn kho dầu chiến lược và thương mại đều thấp hơn lúc chiến sự bắt đầu, khiến thị trường có ít dư địa ứng phó hơn.

Diễn biến giá sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố: dòng dầu sang châu Á có được duy trì hay không, các nhà máy lọc dầu có thích ứng với cơ cấu dầu thô mới hay không và tình hình địa chính trị diễn biến ra sao. Xác suất giá tăng sẽ cao hơn nếu xung đột leo thang, nhưng mức tăng còn phụ thuộc vào diễn biến thực tế của thị trường".

Kịch bản 1: Giải quyết hoàn toàn (xác suất 5%)

Căng thẳng nhanh chóng hạ nhiệt, có thỏa thuận ràng buộc về hạt nhân, nới lỏng trừng phạt và tự do hàng hải được khôi phục.

Các nhà máy lọc dầu châu Á tiếp cận lại nguồn dầu chua phù hợp, công suất lọc tăng. Biên lợi nhuận sản phẩm trở về bình thường khi xuất khẩu và sản lượng lọc dầu vùng Vịnh phục hồi, dù nhu cầu nhập dầu ban đầu sẽ làm chậm đà giảm của dầu Brent.

Các chính phủ chưa vội bổ sung Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược (SPR), nhưng sẽ mua vào khi thị trường ổn định hơn. Nhu cầu này cùng với nhu cầu từ các nhà máy lọc dầu sẽ hỗ trợ giá.

Kịch bản 2: Thỏa thuận hạn chế (xác suất 40%)

Cường độ tấn công giảm, ngoại giao trở lại là kênh giải quyết chính. Một thỏa thuận tạm thời khôi phục thương mại nhưng chưa giải quyết vấn đề hạt nhân và chưa loại bỏ lợi thế hàng hải của Iran. Thị trường vẫn duy trì phần bù rủi ro địa chính trị trong khi cần thời gian giải phóng lượng dầu tồn kho ở vùng Vịnh, khôi phục kế hoạch bốc xếp và niềm tin vào vận tải biển.

Biên lợi nhuận lọc dầu tiếp tục ở mức cao khi châu Á cạnh tranh nguồn dầu chua từ vịnh Ba Tư, Mỹ tăng dùng dầu nặng từ Canada và Nam Mỹ, còn châu Âu nhập nhiều dầu ngọt nhẹ hơn và cạnh tranh nguồn nhiên liệu chưng cất.

Biên lợi nhuận cao tiếp tục hỗ trợ nhu cầu dầu thô, đồng thời việc bổ sung SPR sẽ tạo thêm nhu cầu khi thị trường ổn định.

Kịch bản bế tắc - Xác suất 35%: Thị trường thích nghi với rủi ro

Cường độ các cuộc tấn công giảm trong những ngày tới nhưng chậm hơn so với kịch bản thỏa thuận hạn chế. Xuất khẩu của Ả Rập Xê-út từ cảng Yanbu vẫn đóng vai trò quan trọng: khoảng 4 triệu thùng/ngày rời cảng, trong đó khoảng 2,5 triệu thùng/ngày tiếp tục đi qua eo biển Bab el-Mandeb. Kịch bản này giả định tuyến đường vẫn hoạt động, dù các mối đe dọa và các cuộc tấn công gần đây khiến chi phí vận tải và bảo hiểm duy trì ở mức cao.

Nếu tình trạng gián đoạn nguồn cung hiện nay kéo dài và xấu đi, giá dầu nhiều khả năng sẽ tăng trong những tuần tới do thị trường dầu thô và nhiên liệu lỏng toàn cầu đang thiếu hụt. Việc xả Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược (SPR) có thể hạn chế các đợt tăng sốc nhưng không giải quyết được sự mất cân đối về chủng loại dầu thô.

Các nhà máy lọc dầu châu Á thiếu dầu chua có thể phải cắt giảm công suất dù vẫn có dầu ngọt nhẹ, khiến biên lợi nhuận cao không thể chuyển thành tăng nguồn cung và giữ biên lợi nhuận dầu diesel, nhiên liệu máy bay ở mức cao. Biên lợi nhuận sẽ dịch chuyển giữa các nhóm sản phẩm, với sản phẩm nhẹ suy yếu còn sản phẩm chưng cất trung bình mạnh hơn. Châu Âu và các nhà máy lọc dầu phức hợp của Mỹ sẽ cạnh tranh mạnh hơn để mua dầu từ Đại Tây Dương và dầu chua nặng.

Trong kịch bản này, các kho dự trữ chiến lược khó được bổ sung ngay, khiến mỗi đợt căng thẳng mới đều ảnh hưởng mạnh hơn đến giá.

Kịch bản giao tranh bùng phát trở lại - Xác suất 20%: Hai tuyến hàng hải bị phong tỏa, thị trường thiếu hụt nghiêm trọng

Đây là kịch bản xung đột leo thang kéo dài. Đàm phán đổ vỡ, giao tranh trực tiếp giữa Mỹ và Iran tiếp diễn và mở rộng, làm gia tăng rủi ro đối với các nước trong khu vực và hạ tầng năng lượng ở vịnh Ba Tư.

Các tuyến vận chuyển thay thế tiếp tục bị thu hẹp khi lực lượng Houthi phong tỏa eo biển Bab el-Mandeb. Xuất khẩu của Ả Rập Xê-út từ Yanbu về phía nam không thể đến các thị trường mục tiêu, làm mất tuyến thay thế chính cho lưu lượng qua eo biển Hormuz.

Một phần dầu từ Yanbu có thể vận chuyển về phía bắc qua kênh đào Suez và đường ống SUMED, nhưng không thể thay thế hoàn toàn.

Các tàu chở dầu siêu lớn (VLCC) bị hạn chế về mớn nước và kích thước trên tuyến này, buộc phải dùng tàu Suezmax hoặc nhỏ hơn, chở không đầy tải hoặc trung chuyển qua SUMED.

Hạn chế về tàu, năng lực cảng và đường ống, chi phí vận tải, cùng việc chuyển hướng nguồn dầu khỏi châu Á khiến không thể chuyển toàn bộ lượng dầu từ tuyến phía nam sang phía bắc, dù các nhà máy lọc dầu châu Âu sẽ hưởng lợi từ sự dịch chuyển này.

Phần bù rủi ro địa chính trị tăng mạnh do gián đoạn đồng thời tại Hormuz và Bab el-Mandeb, cộng với tình trạng thiếu nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu và hoạt động xuất khẩu sản phẩm dầu từ vùng Vịnh bị gián đoạn.

Khi tồn kho dầu thô và sản phẩm dầu tăng tại Trung Đông, áp lực tồn kho buộc các nhà khai thác phải cắt giảm sản lượng mạnh hơn so với đầu tháng 3.

Biên lợi nhuận lọc dầu và sản phẩm tăng mạnh nhưng không tạo thêm nguồn cung. Các nhà máy lọc dầu châu Á khó thay thế dầu chua từ vùng Vịnh, trong khi việc thiếu nguồn diesel và nhiên liệu máy bay từ Trung Đông khiến thị trường càng thắt chặt. Biên lợi nhuận cao hỗ trợ nhu cầu mua dầu thô nhưng không chuyển thành sản lượng lọc thực tế.

Khả năng phối hợp xả SPR sẽ tăng, nhưng lượng dầu có thể sử dụng bị hạn chế bởi vị trí kho, chất lượng dầu và khả năng tương thích của các nhà máy lọc dầu. Các đợt xả SPR trước đó đã làm giảm đáng kể tồn kho toàn cầu, nên thị trường bước vào giai đoạn này với ít dư địa ứng phó hơn.

Trong khi đó, giá dầu thô và sản phẩm dầu tăng mạnh sẽ làm giảm nhu cầu nhiên liệu đường bộ, hàng không, hóa dầu và tại các thị trường mới nổi nhạy cảm với giá. Cùng với nguồn cung ngoài vùng Vịnh tăng và thương mại dần thích nghi, thị trường dầu thô sẽ hạ nhiệt trong giai đoạn đến năm 2027.

Nh.Thạch

AFP

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ