🔍
Chuyên mục: Môi trường - Khí hậu

Thanh Hóa ứng phó xâm nhập mặn - Bài 2: Giữ ngọt, hồi sinh đất sản xuất vùng ven biển

14 giờ trước
Từ 172ha đất trồng cói được đưa trở lại canh tác lúa đến những mô hình sản xuất mới ven sông Càn, việc kiểm soát nguồn nước tại vùng ven biển Thanh Hóa đang tạo thêm điều kiện để người dân cải tạo đất, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và ổn định sản xuất.

Nhân viên Công ty TNHH MTV Bắc sông Mã tại cống Mộng Giường 2 kiểm tra hệ thống bảng điều khiển máy bơm.

Từ 172ha đất cói trở lại đồng lúa

Tại khu vực Nga Tân, Nga Tiến trước đây, nay thuộc xã Tân Tiến, có 172ha đất từng được người dân sử dụng để trồng cói do điều kiện nguồn nước không thuận lợi cho sản xuất lúa. Để đưa diện tích này trở lại trồng lúa, bên cạnh việc đầu tư công trình thủy lợi, người dân còn phải trải qua quá trình cải tạo đất kéo dài nhiều tháng.

Năm 2008, sau khi tuyến đê số 4 được hoàn thiện và cống Mộng Giường 2 đưa vào vận hành, khu vực được quy hoạch chuyển từ trồng cói sang trồng lúa. Tuy nhiên, công trình ngăn mặn, giữ ngọt mới chỉ tạo điều kiện ban đầu. Đất đã chịu ảnh hưởng mặn trong thời gian dài cần được thau chua, rửa mặn trước khi có thể đưa vào canh tác.

Người dân phải phá bỏ diện tích cói, đưa nước ngọt vào để cải tạo đất. Quá trình này mất khoảng một năm trước khi có thể cày bừa, gieo cấy. Những vụ đầu tiên, năng suất lúa đạt khoảng 1,8–2 tạ/sào theo tư liệu ghi nhận tại địa phương.

Ông Phạm Quang Bốn, ở thôn 7, xã Tân Tiến, có 500m² ruộng trong khu vực 172ha. Khi nguồn nước được kiểm soát và đất được cải tạo, diện tích này có điều kiện trở lại sản xuất lúa.

Việc chuyển đổi từ cói sang lúa không đơn thuần là thay đổi một loại cây trồng. Với diện tích từng chịu ảnh hưởng mặn, khả năng duy trì sản xuất phụ thuộc trước hết vào nguồn nước phù hợp để cải tạo đất và phục vụ những vụ tiếp theo. Nếu nguồn nước không được kiểm soát, đất có nguy cơ tiếp tục chịu tác động của mặn, ảnh hưởng đến hiệu quả canh tác.

Trong quá trình đó, cống Mộng Giường 2 giữ vai trò quan trọng đối với việc kiểm soát nguồn nước.

Nằm trên hệ thống sông Càn, đây là công trình lớn nhất trong 4 cống tại khu vực này. Công trình vừa kiểm soát nước mặn từ sông Càn, vừa điều tiết nguồn nước giữa sông Càn và kênh Hưng Long, đồng thời phục vụ tiêu thoát nước khi cần thiết.

Trong hệ thống, nước phục vụ sản xuất được đưa từ nguồn khác qua trạm bơm Xa Loan vào kênh Hưng Long. Cống Mộng Giường 2 đảm nhiệm vai trò kiểm soát nguồn nước ở phía hạ lưu, góp phần hạn chế mặn xâm nhập và duy trì nguồn nước cho khu vực phía trong.

Công nhân Mai Xuân Lợi, người vận hành cống Mộng Giường 2, thường xuyên kiểm tra cửa cống, tình trạng công trình và diễn biến nguồn nước. Trong điều kiện bình thường, cống chủ yếu đóng để hạn chế mặn. Khi có mưa lớn hoặc phát sinh yêu cầu tiêu thoát, công trình được vận hành theo tình hình thực tế.

Việc vận hành phải tính đến cả nguồn nước phía sông Càn và nhu cầu phía trong. Nếu đóng cống quá lâu, khả năng tiêu thoát có thể bị ảnh hưởng; nếu mở không đúng thời điểm, nguồn nước bất lợi có thể đi vào hệ thống. Vì vậy, kiểm soát nguồn nước phải gắn với cả ba yêu cầu: lấy nước, ngăn mặn và tiêu thoát.

Ông Nguyễn Hữu Hoan, Giám đốc Chi nhánh Thủy lợi Nga Sơn, cho biết quá trình phục hồi diện tích đất chịu ảnh hưởng mặn phải gắn với khả năng kiểm soát nguồn nước. Khi hệ thống bảo đảm nguồn nước phù hợp và công trình vận hành ổn định, người dân mới có điều kiện cải tạo đất, chuyển đổi cây trồng và duy trì sản xuất.

Từ những diện tích từng phải trồng cói do điều kiện nguồn nước không thuận lợi, việc khôi phục canh tác lúa cho thấy vai trò của hệ thống thủy lợi trong tạo điều kiện cải tạo, sử dụng đất sản xuất. Tuy nhiên, để duy trì kết quả này, việc kiểm soát nguồn nước phải được thực hiện thường xuyên, gắn với yêu cầu canh tác của từng khu vực.

Việc vận hành các cống ngăn mặn xâm nhập hiệu quả giúp phục hồi một diện tích đất đáng kể để nhân dân đưa vào sản xuất nông nghiệp hiệu quả.

Kiểm soát nguồn nước, mở thêm lựa chọn sản xuất

Không chỉ tạo điều kiện đưa đất trồng cói trở lại canh tác lúa, việc kiểm soát nguồn nước tại vùng ven sông Càn còn gắn với quá trình cải tạo đất và thay đổi mô hình sản xuất của người dân.

Tại xã Tân Tiến, tuyến đê sông Càn qua địa bàn dài khoảng 9km, được gia cố nhằm bảo vệ khu vực phía trong. Cùng với hệ thống cống, tuyến đê góp phần giúp người dân chủ động hơn trong việc sử dụng đất trước những biến động của nguồn nước.

Cống T3 được đưa vào sử dụng khoảng ngày 27/12/2023, bổ sung điều kiện kiểm soát nguồn nước cho khu vực phía trong. Trước đó, việc kiểm soát nguồn nước tại đây còn hạn chế; một số diện tích chủ yếu được sử dụng để trồng cói, nuôi cá hoặc nuôi trồng thủy sản theo điều kiện sẵn có.

Sau khi công trình đi vào vận hành, khu vực khoảng 200ha từng bước được cải tạo và đầu tư sản xuất. Tuy nhiên, mức độ chuyển đổi của từng diện tích còn phụ thuộc vào điều kiện đất, nguồn nước, vốn và khả năng tổ chức sản xuất của mỗi hộ.

Tại thôn 6, xã Tân Tiến, gia đình bà Mai Thị Lệ và ông Mai Văn Hướng có hơn 1ha diện tích ao, đã gắn với nghề nuôi tôm khoảng 6 năm. Trước đây, khu vực này từng có diện tích trồng cói và nuôi cá. Khi cây cói gặp khó khăn về hiệu quả, gia đình chuyển hướng sử dụng đất, cải tạo ao và đầu tư hệ thống phục vụ nuôi tôm.

Sự thay đổi này cho thấy người dân không chỉ tìm cách khôi phục phương thức sản xuất cũ mà còn tính toán lựa chọn mô hình phù hợp hơn với điều kiện thực tế.

Bên cạnh nuôi tôm, một số hộ trong khu vực đầu tư nhà lưới, nhà màng để sản xuất. Việc lựa chọn mô hình nào phụ thuộc vào khả năng đầu tư, kỹ thuật, nguồn nước và đầu ra sản phẩm.

Dù vậy, có công trình kiểm soát nguồn nước không đồng nghĩa với việc mọi diện tích đều có thể chuyển đổi ngay hoặc đạt hiệu quả như nhau.

Đối với nuôi trồng thủy sản, chất lượng nguồn nước và khả năng duy trì điều kiện nuôi có ý nghĩa quan trọng. Với cây trồng, đất cần được cải tạo phù hợp, trong khi người dân phải tính toán chi phí và thị trường trước khi đầu tư.

Công trình thủy lợi vì thế đóng vai trò tạo điều kiện, chứ không thay thế được những yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất. Đê phải được bảo vệ, cống cần được vận hành đúng yêu cầu, còn hệ thống thiết bị phải được kiểm tra, bảo dưỡng để duy trì khả năng hoạt động.

Tại cống Mộng Giường 2, các hạng mục như cửa cống, hệ thống nâng cửa, thiết bị điện và nhà quản lý cần được quan tâm trong quá trình duy tu. Công trình xuống cấp hoặc vận hành không ổn định có thể ảnh hưởng đến việc kiểm soát nguồn nước, nhất là những thời điểm cần ngăn mặn hoặc tiêu thoát.

Tại xã Tân Tiến, việc vận hành hiệu quả các cống ngăn mặn đã giúp phục hồi 172ha đất trồng cói sang trồng lúa cho hiệu quả và năng xuất cao.

Thực tế ở vùng ven biển Thanh Hóa cho thấy, phục hồi đất sản xuất cần được nhìn nhận từ cả hệ thống. Nguồn nước phải được kiểm soát từ ngoài sông, dẫn qua các công trình và kênh mương đến khu vực sử dụng. Sau đó, người dân cần thời gian cải tạo đất, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp và tổ chức sản xuất theo điều kiện của mình.

Từ 172ha đất cói được đưa trở lại trồng lúa đến những hộ chuyển sang nuôi tôm, đầu tư nhà lưới, nhà màng ở vùng ven sông Càn, việc kiểm soát nguồn nước đã tạo thêm lựa chọn trong sử dụng đất. Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài vẫn phụ thuộc vào khả năng duy trì hoạt động của công trình, chất lượng nguồn nước và tính phù hợp của từng mô hình sản xuất.

Ông Nguyễn Văn Chính, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi, cho rằng việc phục hồi những diện tích đất từng chịu ảnh hưởng mặn cần gắn với kiểm soát nguồn nước và khả năng vận hành của hệ thống thủy lợi. Khi nước được kiểm soát, đất mới có điều kiện được cải tạo và sử dụng ổn định cho sản xuất.

Từ câu chuyện chủ động lấy nước ngọt giữa mùa mặn đến quá trình cải tạo đất, chuyển đổi sản xuất tại xã Tân Tiến, có thể thấy vai trò xuyên suốt của hệ thống thủy lợi đối với vùng ven biển Thanh Hóa. Chủ động kiểm soát nguồn nước không chỉ giúp hạn chế tác động của xâm nhập mặn mà còn tạo điều kiện để người dân khai thác, sử dụng đất phù hợp hơn, từng bước duy trì và ổn định sản xuất.

Phạm Thọ

TIN LIÊN QUAN




































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ