Thanh Hóa ứng phó xâm nhập mặn - Bài 1: Canh con nước, giữ nguồn ngọt giữa mùa mặn

Chi nhánh thủy lợi Hậu Lộc luôn vận dụng tối đa các khoảng thời gian có thể để lấy nước ngọt phục vụ sản xuất.
Tranh thủ từng thời điểm lấy nước ngọt
Ở vùng ven biển Thanh Hóa, không phải lúc nào có nước ngoài sông cũng có thể lấy nước phục vụ sản xuất. Khi thủy triều lên, độ mặn tăng, các công trình thủy lợi phải tạm dừng lấy nước, chờ thời điểm thuận lợi mới vận hành trở lại. Việc lấy nước vì thế phải căn cứ chặt chẽ vào diễn biến thủy triều, mực nước và độ mặn trên các tuyến sông.
Khu vực Hậu Lộc, Nga Sơn chịu tác động trực tiếp từ diễn biến nguồn nước trên các sông Mã, sông Lèn, sông Càn cùng hệ thống kênh, cống dẫn nước vào nội đồng. Khi triều lên, nước mặn có thể theo các cửa sông xâm nhập sâu vào hệ thống thủy lợi. Nếu lấy nước không đúng thời điểm, nguồn nước đưa vào nội đồng có thể ảnh hưởng đến khả năng cấp nước cho sản xuất.
Theo số liệu theo dõi của cơ quan chuyên môn, trong năm 2026, tại khu vực Hoa Lộc có thời điểm bị ảnh hưởng mặn từ 14–23 giờ/ngày. Thời gian nguồn nước không thuận lợi kéo dài khiến việc lấy nước phải được tính toán sát với diễn biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào lịch vận hành cố định.
Tại các cửa lấy nước, cán bộ thủy lợi thường xuyên kiểm tra độ mặn, mực nước và diễn biến thủy triều trước khi quyết định vận hành công trình. Khi nguồn nước bảo đảm điều kiện, các đơn vị tranh thủ lấy nước đưa vào hệ thống. Ngược lại, nếu độ mặn tăng hoặc mực nước không phù hợp, cửa lấy nước phải đóng để hạn chế nguy cơ đưa nước mặn vào nội đồng.
Ông Nguyễn Thành Chinh, Giám đốc Chi nhánh Thủy lợi Hậu Lộc, cho biết việc vận hành các công trình lấy nước phải bám sát diễn biến độ mặn và thủy triều. Khi nguồn nước không bảo đảm, đơn vị phải dừng lấy nước; khi xuất hiện thời điểm phù hợp, công trình được vận hành để tranh thủ nguồn nước ngọt.
Tuy nhiên, lấy được nước từ ngoài sông mới chỉ là khâu đầu tiên. Đối với những vùng sản xuất nằm sâu trong hệ thống, yêu cầu quan trọng không kém là phải dẫn được nước đến đúng khu vực cần sử dụng.
Một cửa lấy nước hoạt động thuận lợi chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ diện tích phía trong đều có đủ nước. Khả năng dẫn nước của các tuyến kênh, mực nước trong hệ thống và việc điều tiết giữa các khu vực đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cấp nước.
Bởi vậy, ứng phó với xâm nhập mặn không thể chỉ dựa vào một cống hay một trạm bơm riêng lẻ. Các công trình đầu mối, tuyến kênh dẫn và hệ thống nội đồng phải được vận hành đồng bộ, vừa hạn chế nước mặn xâm nhập, vừa tận dụng tối đa những thời điểm có thể lấy nước ngọt.

Hệ thống máy bơm nước luôn được nhân viên kiểm tra kĩ lưỡng để phục vụ việc lấy nước tưới tiêu
Chủ động nguồn bổ sung, giữ nước trong hệ thống
Khi nguồn nước chính không thuận lợi, các đơn vị thủy lợi tại khu vực Nga Sơn cũ phải chủ động tính toán những phương án bổ sung khác nhau. Tùy điều kiện thực tế, nước được đưa từ những khu vực có nguồn phù hợp về hệ thống để phục vụ sản xuất.
Theo ông Mai Sỹ Việt, Trưởng phòng Kỹ thuật Chi nhánh Thủy lợi Nga Sơn, việc lấy nước phải căn cứ vào diễn biến thực tế tại từng thời điểm. Khi nguồn nước phù hợp, đơn vị tranh thủ lấy; nếu điều kiện không bảo đảm thì chuyển sang phương án khác.
Tại khu vực này, nguồn nước có thể được bổ sung từ Hoằng Khánh qua khu vực cống Bệnh Viện cũ về Trà Giang, tạo nguồn cho các trạm bơm phía trong. Công trình Vô Ống tại Lộc Động có công suất khoảng 8.000 m³/giờ, góp phần đưa nước vào hệ thống. Các khu vực Châu Lộc, Đại Lộc và Cống Phủ ở Hà Trung cũng được tính đến khi cần bổ sung nguồn.
Tuy nhiên, không phải phương án nào cũng có thể triển khai đồng thời. Việc lựa chọn nguồn nước phụ thuộc vào mực nước, độ mặn, khả năng tiếp nhận của hệ thống và nhu cầu sử dụng tại từng khu vực. Sau khi được đưa về, nước tiếp tục được phân phối qua các tuyến kênh dẫn đến trạm bơm và đồng ruộng.
Thực tế cho thấy, việc tìm nguồn nước bổ sung không phải là yêu cầu mới đặt ra. Trong những năm nguồn nước khó khăn như 2010 và 2012, khu vực phía trong sông Càn từng phải sử dụng phương án đắp đập tạm ở phía thượng lưu cầu Điền Hộ để giữ nước. Nguồn từ Âu Cầu Hội và Cống Phủ ở Hà Trung cũng được tính đến khi cần bổ sung.
Những giải pháp này cho thấy, ứng phó với xâm nhập mặn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều công trình và nguồn nước, thay vì chỉ trông chờ vào một cửa lấy nước.
Dẫu vậy, tìm được nguồn bổ sung mới giải quyết một phần yêu cầu. Nếu lượng nước đưa về không được duy trì trong hệ thống, khi độ mặn tăng hoặc mực nước bên ngoài xuống thấp, các trạm bơm phía trong vẫn có nguy cơ thiếu nguồn phục vụ sản xuất.

Nhân viên thủy lợi của Công ty TNHH MTV Bắc sông Mã kiểm tra hệ thống vận hànhh của cống bơm nước.
Vì thế, cùng với việc vận hành cống và trạm bơm, các đơn vị thủy lợi phải duy trì khả năng dẫn nước của toàn hệ thống. Những tuyến kênh như Trà Giang, kênh 5 xã, kênh Chợ Dầu được duy tu, nạo vét để phục vụ dẫn nước. Các cửa lấy nước, thiết bị vận hành và hệ thống kênh nội đồng cũng cần được kiểm tra nhằm hạn chế những điểm nghẽn trong quá trình cấp nước.
Ông Nguyễn Văn Chính, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi, cho rằng việc ứng phó với xâm nhập mặn phải bắt đầu từ theo dõi nguồn nước, thủy triều và độ mặn để chủ động vận hành công trình. Cùng với ngăn mặn, các đơn vị phải tính đến nguồn nước thay thế và khả năng duy trì nước trong hệ thống khi thời gian lấy nước bị rút ngắn.
Tại vùng ven biển Thanh Hóa, giữ nguồn nước ngọt vì thế không chỉ là nhiệm vụ trong một thời điểm mà là quá trình liên tục, từ theo dõi diễn biến ngoài sông, lựa chọn thời điểm lấy nước đến điều tiết, phân phối và duy trì nguồn nước trong hệ thống.
Trong điều kiện mùa khô diễn biến bất lợi, khả năng chủ động nguồn nước và vận hành đồng bộ các công trình thủy lợi có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì sản xuất, hạn chế tác động của xâm nhập mặn đến những vùng canh tác ven biển.
Phạm Thọ
3 giờ trước
1 ngày trước
40 phút trước
46 phút trước
1 giờ trước
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước