🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tháng Bảy - ký ức Trường Sơn

46 phút trước
Mỗi độ tháng Bảy, từng đoàn người lại hướng về các nghĩa trang liệt sĩ, Thành cổ Quảng Trị, Ngã ba Đồng Lộc hay dãy Trường Sơn hùng vĩ. Ký ức về một thời hoa lửa lại trở về trong lòng nhiều người. Với những cựu chiến binh từng đi qua chiến tranh, tháng Bảy không chỉ là mùa tri ân mà còn là mùa của những câu chuyện được kể lại. Họ gìn giữ ký ức Trường Sơn bằng những kỷ vật, những trang hồi ký và những lời kể chân thực, để bản hùng ca của một thời 'xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước' tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Thế hệ trẻ tri ân các anh hùng liệt sĩ.

Huyền thoại phía sau “con đường huyền thoại”

Ở tuổi gần 80, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu, nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng), nguyên kỹ sư khảo sát, thiết kế và thi công tuyến đường ống xăng dầu chiến lược khi nhắc đến Trường Sơn, giọng ông lại chùng xuống. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng từng cánh rừng, con suối, từng bản làng trên đất bạn Lào và gương mặt những người đồng đội đã nằm lại vẫn hiện lên rõ ràng như mới hôm qua.

Năm 1968, khi đang là sinh viên năm cuối ngành mỏ - địa chất, Hồ Sỹ Hậu cùng 17 sinh viên khác được đặc cách tốt nghiệp để bí mật nhập ngũ. Nhiệm vụ của họ đặc biệt và chưa từng có tiền lệ: xây dựng tuyến đường ống dẫn xăng dầu chiến lược xuyên Trường Sơn phục vụ chiến trường miền Nam.

Khi ấy, tuyến vận tải Trường Sơn đã trở thành huyết mạch của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, để bảo đảm nguồn nhiên liệu cho xe cơ giới, pháo binh và các lực lượng chiến đấu, việc vận chuyển bằng xe bồn hay gùi cõng không còn đáp ứng được yêu cầu. Một hệ thống đường ống xuyên rừng, vượt núi là giải pháp táo bạo nhưng cũng đầy rủi ro trong điều kiện chiến tranh.

Trên dãy Trường Sơn, máy bay Mỹ đánh phá ngày đêm. Mỗi đoạn đường ống được lắp đặt đều phải tính toán tỉ mỉ để vừa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, vừa tránh sự phát hiện của đối phương. Chỉ một quả bom trúng mục tiêu cũng có thể phá hủy hàng chục ki-lô-mét đường ống, làm gián đoạn nguồn nhiên liệu cho cả chiến trường.

Nhắc lại những năm tháng ấy, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu vẫn luôn nhớ lời Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên: “Nếu đường Trường Sơn là huyền thoại thì đường ống xăng dầu là huyền thoại trong huyền thoại ấy.”

Đằng sau hai chữ “huyền thoại” là biết bao máu xương và sự hy sinh thầm lặng của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ.

Một trong những ký ức sâu đậm nhất của Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu là chiến dịch đưa đường ống vượt qua đỉnh Trường Sơn. Khu vực dự kiến đặt đường ống liên tục hứng chịu các đợt ném bom dữ dội của B-52. Suốt nhiều tháng liền, bom đạn gần như “đón lõng” mọi hướng triển khai. Hễ đơn vị chuẩn bị thi công ở đâu thì nơi đó nhanh chóng trở thành mục tiêu đánh phá.

“Nếu cứ đi theo con đường thuận lợi nhất thì chắc chắn sẽ bị phát hiện”, ông nhớ lại.

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu.

Trong hoàn cảnh tưởng như bế tắc, nhóm kỹ sư trẻ quyết định thay đổi cách tiếp cận. Họ leo lên những khu vực cao nhất, khảo sát lại toàn bộ địa hình và lựa chọn hướng vượt qua đỉnh 911 – một phương án mà đối phương ít ngờ tới.

Quyết định ấy đồng nghĩa với việc phải đối mặt với địa hình hiểm trở hơn nhiều, nhưng lại mở ra cơ hội giữ bí mật.

Từng mét đường ống được luồn sâu dưới tán rừng, bám theo những triền núi dựng đứng. Công việc diễn ra trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt: ban ngày tránh máy bay trinh sát, ban đêm tranh thủ thi công, vừa chống bom đạn, vừa chống sốt rét, mưa rừng và thiếu thốn đủ bề.

Sau nhiều tháng nỗ lực, tuyến đường ống dài khoảng 50km đã hoàn thành.

Ngày 22/12/1969, dòng xăng đầu tiên vượt qua đỉnh Trường Sơn (qua đèo Mụ Giạ) để tiến vào kho K5 tại bản Cọ (Lào) qua hệ thống đường ống. Thành công ấy không chỉ giải quyết bài toán hậu cần mà còn mở ra một phương thức bảo đảm nhiên liệu hoàn toàn mới, góp phần nâng cao sức cơ động của các lực lượng trên chiến trường.

Đó là thành quả của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần sáng tạo của những người lính kỹ thuật Việt Nam trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Nhưng kỳ tích ấy được đánh đổi bằng những mất mát không thể đo đếm được.

Tác phẩm của Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu.

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu bảo rằng, điều khiến ông day dứt nhất không phải những trận bom hay những ngày đói rét giữa đại ngàn, mà là những lần tận tay chôn cất đồng đội. Có người mới mười chín, đôi mươi đã mãi mãi nằm lại. Có những đoạn tuyến mà bình quân mỗi ki-lô-mét có hai cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Có những hôm chỉ nghe ba phát súng báo hiệu có người bị thương, nhưng rồi người ấy cũng không bao giờ trở về đơn vị.

Chiến tranh không chỉ có bom đạn. Đó còn là những cơn sốt rét rừng quật ngã người lính, là chất độc hóa học phủ trắng những cánh rừng, là những bãi mìn dày đặc, những toán biệt kích luôn rình rập. Mỗi bước chân khảo sát đều có thể là những bước cuối cùng.

Những ký ức ấy theo ông suốt cuộc đời. Để mỗi lần trở lại Trường Sơn hay đứng trước những nghĩa trang liệt sĩ, điều hiện lên đầu tiên không phải là chiến công, mà là gương mặt của những người đồng đội đã gửi tuổi xuân giữa đại ngàn.

Sau ngày đất nước thống nhất, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu tiếp tục công tác trong quân đội. Nhưng những ký ức Trường Sơn chưa bao giờ rời khỏi ông.

Nhiều năm sau, ông bắt đầu chắt lọc những trải nghiệm của mình thành tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”, tác phẩm được trao Giải B Giải thưởng Văn học, nghệ thuật, báo chí của Bộ Quốc phòng.

Ông từng chia sẻ, cuốn sách không phải để kể về cuộc đời mình, mà để “trả nghĩa” cho những người đã nằm lại giữa đại ngàn Trường Sơn.

Trong tác phẩm ấy, xăng không chỉ là nhiên liệu của chiến tranh. Đó còn là biểu tượng của ý chí, của khát vọng thống nhất đất nước và của sự hy sinh lặng thầm. Có lẽ cũng bởi vậy mà trong ký ức của người lính già, hai chữ “xăng” và “máu” luôn song hành.

Đến hôm nay, ngôi nhà của Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu vẫn lưu giữ hàng trăm bức ảnh, hiện vật và kỷ niệm chiến trường. Trên cương vị Phó Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, ông vẫn miệt mài gặp gỡ các cựu chiến binh, trò chuyện với học sinh, sinh viên, kể lại về một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Trung tá, nhà văn Hồ Bá Thược.

Người giữ ký ức trên Đường 20 Quyết Thắng

Với Trung tá, nhà văn, nhà báo Hồ Bá Thược, gần ba mươi năm quân ngũ đã đưa ông đi qua nhiều chiến trường B, C, K (miền Nam, Lào, Campuchia). Thế nhưng, Trường Sơn vẫn là nơi để lại trong ông những dấu ấn sâu đậm nhất… Đặc biệt, Đường 20 Quyết Thắng – cung đường được ví như “tọa độ lửa” trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại – mãi là một phần máu thịt trong ký ức ông. Ở đó có tuổi hai mươi, có những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại và có cả những câu chuyện chiến tranh mà hơn nửa thế kỷ sau, ông vẫn lặng lẽ kể lại bằng văn chương.

Ông vào Trường Sơn năm 1965, là cán bộ công binh thuộc Binh trạm 14, trực tiếp tham gia mở Đường 20 Quyết Thắng. Sau này, ông công tác tại Tổng cục Hậu cần và giữ cương vị Trưởng ban Công binh - Tác chiến, Cục Vận tải trước khi nghỉ hưu.

Đường 20 Quyết Thắng được mở năm 1965, là một trong 21 trục ngang của tuyến đường Hồ Chí Minh, nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Đây cũng là một trong những cung đường chịu sự đánh phá khốc liệt nhất của không quân Mỹ.

Có thời điểm cuối năm 1969, trong suốt nhiều ngày đêm, bom B-52 cùng các loại cường kích liên tục trút xuống từng mét đường. Đất đá bị cày xới, cây rừng đổ ngổn ngang, hố bom chồng lên hố bom.

Xây dựng hệ thống tuyến ống (công trình X-42) vượt qua sông Lam, sông La, qua các trọng điểm năm 1968. Ảnh: TL.

Nhớ lại những ngày đầu đặt chân tới Đường 20, Hồ Bá Thược kể, điều khiến những người lính trẻ sững sờ không chỉ là tiếng bom mà là cảm giác cả con đường như biến mất, chỉ thấy một bãi chiến trường dài hàng trăm cây số. Giữa khung cảnh ấy, những người lính công binh vẫn ngày đêm bám đường, san lấp hố bom, mở đường cho xe qua, giữ cho mạch vận tải không bao giờ bị đứt đoạn.

Năm 1973, trong chuyến thăm bộ đội Trường Sơn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đứng trên trọng điểm ATP và khẳng định: “Đường 20 xứng đáng là một kỳ công, kỳ tích, kỳ quan.”

Với những người lính, lời đánh giá ấy không chỉ nói về một công trình quân sự mà còn là sự ghi nhận đối với biết bao con người đã lặng lẽ cống hiến và hy sinh trên tuyến đường huyền thoại.

Rời quân ngũ, Trung tá Hồ Bá Thược đến với văn chương khá muộn. Nhưng có lẽ cũng vì từng trải qua chiến tranh nên mỗi trang viết của ông đều mang theo hơi thở của đời sống và những trải nghiệm thật.

Khác với nhiều tác phẩm viết về những trận đánh hay chiến công trên chiến trường, ông chọn kể về những con người phía sau chiến thắng. Đó là những cô gái thanh niên xung phong lặng lẽ mở đường giữa mưa bom.

Là những người vợ liệt sĩ mòn mỏi chờ chồng.

Là những người lính công binh chưa một lần trực tiếp nổ súng nhưng mỗi ngày đều đối mặt với sự hy sinh.

Mỗi dịp tháng Bảy, trên tuyến Đường 20 Quyết Thắng, những địa danh như phà Xuân Sơn, ngầm Cà Roòng, hang Tám Cô hay các đền tưởng niệm liệt sĩ lại đón những đoàn người từ khắp mọi miền đất nước về dâng hương.

Mỗi địa danh là một câu chuyện.

Mỗi tấm bia là tên của một người đã gửi lại tuổi xuân giữa Trường Sơn.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng Trường Sơn chưa bao giờ chỉ còn là quá khứ. Đó là những con đường mở giữa mưa bom bão đạn, những đoàn xe vượt núi xuyên rừng và biết bao con người âm thầm làm nên kỳ tích trên tuyến chi viện chiến lược. Những năm tháng ấy không chỉ được lưu giữ trong các di tích, nghĩa trang hay bảo tàng, mà còn sống mãi trong những trang sách của những người lính trở về.

Những câu chuyện được kể lại không nhằm khơi gợi nỗi đau quá khứ, mà để thế hệ hôm nay hiểu rằng hòa bình được đánh đổi bằng máu xương, tuổi trẻ và cả những ước mơ còn dang dở của biết bao người.

Bởi vậy, bản hùng ca Trường Sơn không chỉ được ghi trong những trang sử, mà vẫn tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, lòng yêu nước và trách nhiệm gìn giữ những giá trị lịch sử thiêng liêng.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ