Tái hiện đời sống, sinh hoạt giàu bản sắc của đồng bào Ê Đê
Tối 17/8, trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026, tại Bảo tàng Đắk Lắk (phường Buôn Ma Thuột), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Chương trình nghệ thuật trải nghiệm “Nhà dài show”.
Phần mở đầu “Miền mơ tưởng” đưa người xem rời nhịp sống hiện đại để bước vào thế giới của nhà dài.
Chương trình gồm 4 phần, phần mở đầu “Miền mơ tưởng” và 3 phần chính là “Dring Gah”, “Gah”, “Ôk”. Với ý tưởng “Hành trình bắt đầu từ đại ngàn”, "Miền mơ tưởng" đưa khán giả đi qua miền cảm giác nơi con người, thiên nhiên và lao động hòa quyện; tạm xa rời nhịp sống hiện đại để bước vào thế giới nhà dài.
Phần “Dring Gah” mở ra một buổi sớm trước nhà dài. Đời sống cộng đồng hiện lên qua lao động, sinh hoạt, tiếng nói cười và những cuộc gặp gỡ bình dị.
Với thời lượng 30 phút, “Nhà dài show” kết hợp thực cảnh với công nghệ 3D mapping, ánh sáng, nghệ thuật múa tương tác và âm nhạc Tây Nguyên đương đại, lấy hình ảnh nhà dài Ê Đê làm trung tâm kể chuyện. Thông qua ánh sáng, âm thanh và chuyển động, show tái hiện hành trình ký ức của đại ngàn, từ đời sống buôn làng, bếp lửa mẫu hệ, tiếng cồng chiêng lễ hội đến nhịp sống hiện đại của Đắk Lắk hôm nay. Nhà dài không chỉ là bối cảnh sân khấu mà trở thành “nhân vật sống”, chứng kiến bao thế hệ người Tây Nguyên sinh sống, gìn giữ văn hóa và kết nối cộng đồng. Những lớp mapping biến mái nhà dài thành rừng núi, dòng sông, hoa văn thổ cẩm, lửa thiêng và không gian lễ hội, tạo nên trải nghiệm thị giác giàu cảm xúc, đậm bản sắc.
Chương trình tái hiện đời sống văn hóa, tinh thần, sinh hoạt trong ngôi nhà dài của người Ê Đê.
Bà Lê Thị Lý, người dân buôn Ako Dhông, phường Buôn Ma Thuột cho biết chương trình được dàn dựng công phu, tái hiện đời sống sinh hoạt giàu bản sắc của đồng bào Ê Đê, mang lại cho bà nhiều xúc động. Chương trình cần được quảng bá rộng rãi để thu hút du khách đến thưởng thức, trải nghiệm, qua đó góp phần bảo tồn, gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Ê Đê.
Chương trình tái hiện đời sống văn hóa, tinh thần, sinh hoạt trong ngôi nhà dài của người Ê Đê.
Trong khi đó, chị Nguyễn Lê Thanh Thảo, phường Buôn Ma Thuột đánh giá các chi tiết như ánh lửa, chiếc đôn gỗ mộc mạc hay không gian ánh sáng giúp người xem hòa mình vào chương trình bằng nhiều giác quan. Nếu được tổ chức trong không gian rộng hơn và tăng số lượng khách trải nghiệm, “Nhà dài show” có thể trở thành sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn, thu hút du khách.
Chương trình tái hiện đời sống văn hóa, tinh thần, sinh hoạt trong ngôi nhà dài của người Ê Đê.
Chương trình diễn ra từ ngày 17-19/8, mỗi tối hai suất vào 19 giờ 30 phút và 20 giờ 30 phút. Theo ông Trần Hồng Tiến, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, việc đưa công nghệ vào trình diễn văn hóa là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời mở ra khả năng hình thành những sản phẩm mới, thu hút du khách.
Chương trình tái hiện đời sống văn hóa, tinh thần, sinh hoạt trong ngôi nhà dài của người Ê Đê.
“Nhà dài show” hướng tới hình thành sản phẩm văn hóa - du lịch có khả năng vận hành lâu dài, tạo dấu ấn riêng và mở rộng cách tiếp cận di sản bằng trải nghiệm trực tiếp. Giá trị cốt lõi không nằm ở quy mô công nghệ mà ở khả năng đưa khán giả đến gần với đời sống người Ê Đê thông qua không gian, con người, âm nhạc, ký ức, luật tục và các mối quan hệ cộng đồng. Chương trình còn tạo điều kiện để nghệ nhân, người dân và chủ thể văn hóa tham gia vào quá trình bảo tồn - thực hành - giới thiệu di sản, kết nối văn hóa với hoạt động du lịch theo hướng tôn trọng bản sắc, phát triển bền vững./.
Dân tộc Ê Đê
Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.
Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan...
Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.
Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.
Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.
Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.
Ở: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.
Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.
Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.
Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.
Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.
Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.
Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.
Theo cema.gov.vn
Tin liên quan
Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk: Đưa giá trị và uy tín nông sản Việt vươn tầm quốc tế Đắk Lắk lần đầu tổ chức Lễ hội Sầu riêng quy mô cấp tỉnh vào tháng 8/2026 Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái
4 giờ trước
1 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước