Phát triển thủy sản bền vững đóng góp vào tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường


Trong 10 năm (2015-2025), giá trị gia tăng lĩnh vực thủy sản đã tăng gần gấp đôi, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11 tỷ USD và duy trì tỷ trọng khoảng 16-23% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Thủy sản cũng là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của ngành nông nghiệp và môi trường với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP nông - lâm - thủy sản.
Nuôi tôm xuất khẩu ở ĐBSCL. Ảnh: BCT.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), trong những năm qua, lĩnh vực thủy sản tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định. Năm 2015, tổng sản lượng thủy sản Việt Nam hơn 6,5 triệu tấn nhưng năm 2025 đã tăng lên hơn 9,9 triệu tấn, đạt tốc độ tăng sản lượng bình quân 4,3%/năm. Trong đó, sản lượng khai thác đạt hơn 3,8 triệu tấn (chiếm hơn 38%), nuôi trồng đạt hơn 6,1 triệu tấn (chiếm hơn 61%).
Khu vực nuôi trồng đất liền có tốc độ tăng trưởng cao dựa trên năng suất, hiệu quả. Những năm gần đây, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng không lớn và giữ trong khoảng 1,1-1,2 triệu ha nhưng năng suất tăng nhanh nên sản lượng tăng liên tục. Năng suất thủy sản nuôi trồng tăng bình quân từ 33,5 tạ/ha năm 2015 lên 51,8 tạ/ha năm 2024, tăng hơn 54%. Trình độ thâm canh trong nuôi trồng thủy sản đã được cải thiện đáng kể nhờ ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển giống chất lượng cao, mở rộng mô hình nuôi công nghệ cao và tăng cường quản lý kỹ thuật trong sản xuất.
Trong cơ cấu sản phẩm nuôi trồng, cá chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng liên tục qua các năm. Sản lượng cá nuôi tăng từ hơn 2,5 triệu tấn năm 2015 lên hơn 3,8 triệu tấn năm 2024. Tăng trưởng chủ yếu từ cá tra và một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao.

Cá tra là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tập trung ở ĐBSCL.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất thủy sản nuôi trồng lớn nhất cả nước với sản lượng trên 4 triệu tấn. Đây là khu vực có lợi thế vượt trội về điều kiện tự nhiên, hệ thống sông ngòi, diện tích mặt nước và tập trung các ngành hàng chủ lực như cá tra và tôm nước lợ phục vụ xuất khẩu. Riêng sản lượng cá tra chiếm trên 50% tổng sản lượng cá, đạt gần 2 triệu tấn, diện tích nuôi khoảng 5.700-6.000 ha.
Sản lượng tôm nuôi cũng tăng trưởng nhanh, từ hơn 635.000 tấn năm 2015 lên trên 1,3 triệu tấn năm 2025. Tỷ trọng tôm trong tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cũng tăng dần qua các năm, phản ánh xu hướng mở rộng nuôi tôm công nghệ cao, nuôi thâm canh và phát triển các vùng nuôi phục vụ xuất khẩu.
Nuôi biển ngày càng phát triển đa dạng và càng trở nên quan trọng. Năm 2025, cả nước có khoảng 9,8 triệu m³ lồng (trong đó 4,6 triệu m³ lồng nuôi cá biển, 5,2 triệu m³ lồng nuôi tôm hùm) và 59.200 ha nuôi nhuyễn thể. Tổng sản lượng nuôi biển khoảng 859.200 tấn, trong đó cá biển 50.000, tôm hùm 4.200 tấn, nhuyễn thể 470.000 tấn và đối tượng khác 335.000 tấn.

Năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng trưởng ổn định.
Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng chậm lại trong những năm gần đây, phản ánh định hướng giảm dần khai thác tự nhiên và phát triển thủy sản theo hướng bền vững. Tổng sản lượng khai thác thủy sản tăng từ khoảng 3,18 triệu tấn năm 2015 lên khoảng 3,83 triệu tấn năm 2025. Khai thác biển hiện vẫn chiếm tỷ trọng cao, khoảng 94% tổng sản lượng khai thác thủy sản.
Những năm qua, nhiều quy trình công nghệ tiên tiến đã được nghiên cứu, chuyển giao vào sản xuất, mang lại hiệu quả to lớn, giúp ngư dân bám biển và phát triển kinh tế biển, khai thác thủy sản có trách nhiệm. Bên cạnh phát triển công nghệ khai thác hải sản, đặc biệt là khai thác xa bờ, nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới trong chế biến sau thu hoạch các sản phẩm thủy, hải sản được đẩy mạnh, góp phần nâng cao giá trị gia tăng trên nhiều đối tượng chủ lực, kinh tế như rong biển (tiêu thụ nội địa và xuất khẩu), mực đại dương (bảo quản sống), cá ngừ đại dương (xuất khẩu).
Chế biến tôm xuất khẩu. Ảnh: BCT.

Nhờ có sự tăng đều về sản lượng nên trong 10 năm qua, lĩnh vực thủy sản có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, bình quân đạt khoảng 4,81%/năm, cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành nông - lâm - thủy sản (3,59%). Trong nhiều năm, thủy sản là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong toàn ngành. Đặc biệt, giai đoạn 2017-2019, tốc độ tăng trưởng thủy sản đạt từ 6,05-6,46%, phản ánh sự phát triển mạnh của nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản.
Với sự tăng trưởng ổn định, tỷ trọng thủy sản trong GDP toàn ngành nông - lâm - thủy sản tăng lên và đạt 21,5% năm 2025, so với 18% năm 2010. Thủy sản là lĩnh vực có đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của toàn ngành nông - lâm - thủy sản. Bình quân trong giai đoạn 2015-2025, thủy sản đóng góp khoảng 1,03 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung 3,59% của toàn ngành, trong khi lâm nghiệp đóng góp 0,26 điểm phần trăm và nông nghiệp đóng góp 2,29 điểm phần trăm. Thủy sản tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của ngành nông nghiệp và môi trường Việt Nam, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển xuất khẩu.

Chế biến tôm xuất khẩu. Ảnh: BCT.

Nhờ sản xuất tăng trưởng đều, lĩnh vực thủy sản không những đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn xuất khẩu lớn. Từ một quốc gia xuất khẩu thủy sản nhỏ, chỉ vượt mức 1 tỷ USD năm 2000 về giá trị xuất khẩu thủy sản. Đến nay, Việt Nam đã trở thành một trong 3 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế giới sau Trung Quốc và Na Uy. Giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 11,3 tỷ USD, chiếm khoảng 6% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu. Trong 5 tháng đầu năm 2026, mặc dù có nhiều khó khăn về thị trường nhưng xuất khẩu thủy sản vẫn đạt 4,65 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Tôm và cá tra vẫn là hai sản phẩm xuất khẩu chính, đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu và tạo nên vị thế riêng của thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Năm 2025, xuất khẩu tôm đạt gần 4,6 tỷ USD, tăng khoảng 18,8% so với năm 2024 và chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm cả nước đạt 1,85 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trên thị trường thế giới, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm ba nước xuất khẩu tôm lớn nhất, sau Ecuador và Ấn Độ, với thị phần khoảng 12% giá trị xuất khẩu tôm toàn cầu (ITC).
Cá tra là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Ảnh: BCT.
Năm 2025, xuất khẩu cá tra đạt hơn 2 tỷ USD, tăng khoảng 7,7% so với năm 2024. Trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá tra đạt 830 triệu USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ 2025. Đây là sản phẩm Việt Nam có lợi thế rõ về vùng nguyên liệu, hệ thống chế biến và mạng lưới khách hàng quốc tế. Tuy nhiên, cá tra cũng chịu sức ép cạnh tranh từ các loại cá thịt trắng khác như cá minh thái, cá rô phi... Số liệu thương mại cho thấy thị phần của Việt Nam trong nhóm cá thịt trắng đã giảm từ khoảng 12,9% năm 2016 xuống khoảng 10,6% năm 2025.
Bên cạnh đó, các nhóm hải sản khai thác như cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và một số sản phẩm thủy sản khác tiếp tục bổ sung dư địa tăng trưởng, dù chịu sức ép ngày càng lớn từ yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chống khai thác IUU, xác nhận nguồn gốc nguyên liệu và truy xuất theo lô hàng.

Nông dân thu hoạch tôm nuôi phục vụ chế biến xuất khẩu.

Thủy sản Việt Nam đã hình thành mạng lưới xuất khẩu rộng với sản phẩm hiện diện tại hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc vẫn là những thị trường chủ lực. Trong 10 năm qua, cơ cấu thị trường xuất khẩu đang có xu hướng dịch chuyển rõ hơn về khu vực châu Á. Xuất khẩu thủy sản sang các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và Đài Loan đã tăng từ khoảng 44% năm 2016 lên hơn 52% năm 2025. Điều này cho thấy xuất khẩu thủy sản Việt Nam ngày càng gắn chặt hơn với không gian thị trường khu vực, nơi có nhu cầu lớn, khoảng cách địa lý gần hơn và khả năng tiêu thụ sản phẩm đa dạng.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam với kim ngạch 1,16 tỷ USD, chiếm 25% tổng xuất khẩu thủy sản cả nước. Tiếp theo là Hoa Kỳ (700 triệu USD, chiếm 15%), Nhật Bản (637 triệu USD, chiếm 13,6%) và Hàn Quốc (330 triệu USD, chiếm 7%)...

Nuôi cá tra ở ĐBSCL.

Những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam từng bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo hướng bền vững, chú trọng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Việt Nam đang tập trung đẩy mạnh nuôi trồng, hạn chế khai thác, đảm bảo nguồn lợi thủy sản, đồng thời nỗ lực để thoát thẻ vàng IUU. Đây là những nỗ lực quan trọng nhằm phát triển thủy sản bền vững, hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Nhiều kết quả tích cực đã đạt được trong quản lý vùng nuôi, liên kết chuỗi giá trị và phát triển kinh tế tuần hoàn trong thủy sản. Công tác quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc ngày càng được tăng cường thông qua việc cấp mã số vùng nuôi thủy sản. Trong năm 2025, các địa phương tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh việc thực hiện cấp mã số cơ sở nuôi, các tỉnh trọng điểm nuôi cá tra đặt mục tiêu 100% cơ sở nuôi cá tra được cấp mã số nhận diện và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất. Cơ sở nuôi cá tra được cấp mã số đạt 1206/6.500 cơ sở; số cơ sở nuôi lồng bè đạt 684/11.325 cơ sở. Số cơ sở nuôi tôm nước lợ được rà soát là 86.906 cơ sở (24,9%), trong đó đã cấp 76.811/349.745 (chiếm 22%, tăng 4,5% so với 2024)…
Liên kết giữa vùng nuôi với doanh nghiệp chế biến thủy sản ngày càng được mở rộng. Nhiều doanh nghiệp lớn đã hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất giống, nuôi trồng, thu mua đến chế biến và xuất khẩu. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hiện nay phần lớn sản lượng tôm và cá tra xuất khẩu được sản xuất thông qua các chuỗi liên kết với nhà máy chế biến nhằm bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Việc liên kết chuỗi không chỉ giúp ổn định đầu ra cho người nuôi mà còn góp phần nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Kinh tế tuần hoàn trong thủy sản bước đầu được quan tâm phát triển và đem lại hiệu quả tích cực. Nhiều địa phương và doanh nghiệp đã triển khai các mô hình tận dụng phụ phẩm thủy sản để sản xuất thức ăn chăn nuôi, dầu cá, collagen, chitosan, phân bón hữu cơ và năng lượng sinh học. Theo VASEP, mỗi năm ngành thủy sản tạo ra hàng triệu tấn phụ phẩm, trong đó nhiều loại đã được tái chế và nâng cao giá trị sử dụng thay vì thải bỏ gây ô nhiễm môi trường. Một số mô hình nuôi tôm kết hợp điện mặt trời, nuôi tuần hoàn nước, nuôi kết hợp trồng rừng ngập mặn cũng đang được mở rộng nhằm giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cá tra là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, tập trung ở ĐBSCL.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Đặng Ngọc Điệp, bên cạnh cơ hội, lĩnh vực thủy sản đang phải đối mặt với những thách thức và rào cản cần giải quyết triệt để sản xuất bền vững, nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu thị trường.
Cụ thể, áp lực cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt trong khi ngành thủy sản Việt Nam chưa chủ động được con giống và nguyên liệu thức ăn. Lĩnh vực thủy sản đang rơi vào “bẫy chi phí cao”, giá thành sản xuất tôm thương phẩm của Việt Nam hiện cao hơn các nước đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Ecuador và Ấn Độ từ 20-30%. Cụ thể, chi phí sản xuất tôm kích cỡ 50 con/kg tại Việt Nam là 4,25 USD/kg, tại Ấn Độ 2,9 USD/kg và tại Ecuador 2,4 USD/kg. Nguyên nhân do Việt Nam chưa chủ động được nguồn giống chất lượng cao (phụ thuộc vào tôm bố mẹ nhập khẩu), dẫn đến tỷ lệ sống thấp. Chi phí thức ăn thủy sản chiếm 64% và hơn 60% nguyên liệu thức ăn thủy sản phải nhập khẩu.
Sự phát triển nhanh của Ecuador với lợi thế diện tích ao nuôi rộng, nuôi mật độ thấp, chi phí thấp và Ấn Độ tại phân khúc tôm thẻ chân trắng đã đẩy thị trường toàn cầu vào cạnh tranh khốc liệt về giá. Đối với cá tra, áp lực cạnh tranh từ các quốc gia là các thị trường nhập khẩu lớn như Indonesia, Ấn Độ đang tăng tốc phát triển nguồn nuôi nội địa, Việt Nam không còn giữ thế độc quyền tuyệt đối. Bối cảnh đó buộc thủy sản Việt Nam phải chuyển dịch tư duy đa dạng hóa đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao (như các loại cá biển sâu, rong biển, hải sâm, giáp xác đặc sản).
Thách thức phi thuế quan từ xu hướng “xanh hóa” thương mại quốc tế. Các thị trường tiêu thụ lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản đang liên tục dựng lên các rào cản kỹ thuật mới khắt khe hơn. Quy định về Thẩm định chuyên sâu về độ bền vững tài nguyên, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và yêu cầu hạch toán “dấu chân carbon” (Carbon Footprint) trên từng đơn vị sản phẩm thủy sản sẽ sớm trở thành quy định bắt buộc trong giai đoạn tới. Đối với cá tra và tôm, các quy định kiểm tra an toàn thực phẩm khắt khe của FSIS (Cục An toàn và Thanh tra thực phẩm Hoa Kỳ) hay các vụ kiện chống trợ cấp, áp thuế đối ứng (CVD) từ phía Hoa Kỳ đang là những thách thức trực tiếp thường trực.
Áp lực từ các quy định chống khai thác IUU của Ủy ban Châu Âu (EC) đòi hỏi hệ thống quản lý năng lực khai thác và truy xuất nguồn gốc của Việt Nam phải đạt mức minh bạch tuyệt đối. Đây không còn là thách thức thương mại tạm thời mà là bài kiểm tra về năng lực quản trị quốc gia đối với tài nguyên biển.
Chế biến cá tra xuất khẩu. Ảnh: BCT.
Một trong những nút thắt lớn nhất của thủy sản Việt Nam hiện nay là sự phụ thuộc vào hai sản phẩm chính tôm và cá tra nhưng phần lớn sản phẩm xuất khẩu vẫn nằm ở dạng thô, sơ chế hoặc fillet đông lạnh, giá trị gia tăng chưa cao. Việc sản xuất thâm canh cũng gây những ảnh hưởng về môi trường nước nếu không có các giải pháp đảm bảo sản xuất bền vững. Đây là thách thức không nhỏ vì phần lớn các hộ sản xuất thủy sản vẫn là quy mô nhỏ nên việc đầu tư công nghệ cao, áp dụng tiêu chuẩn canh tác bền vững cũng không dễ.
Biến đổi khí hậu không còn là cảnh báo tương lai mà đang trực tiếp gây thiệt hại nghiêm trọng (như bão lũ ở phía Bắc, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại các tỉnh phía Nam và ĐBSCL). Hiện tượng thiên tai cực đoan phá hủy cơ sở hạ tầng vùng nuôi, làm thay đổi các yếu tố quan trắc môi trường và làm phát sinh các chủng dịch bệnh mới biến dị phức tạp.
Ngoài ra, xu hướng già hóa và dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị làm ngành thủy sản (cả khai thác và nuôi trồng/chế biến) đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt lao động nghiêm trọng. Trong 5-10 năm tới, thế hệ ngư dân kỳ cựu sẽ quá tuổi lao động, trong khi thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề biển. Lao động hiện tại chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiếu hụt nghiêm trọng năng lực tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến (như vận hành hệ thống tuần hoàn RAS, xử lý dữ liệu AI, hạch toán kinh tế tuần hoàn), gây cản trở trực tiếp đến tiến trình hiện đại hóa đồng bộ của toàn ngành.

Nuôi cá tra giống ở Cần Thơ.

Theo Bộ NN&MT, để phát triển lĩnh vực thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, đáp ứng tốt các yêu cầu thị trường, giảm thiểu các rủi ro về biến đổi khí hậu, dịch bệnh, trong thời gian tới, lĩnh vực thủy sản tập trung vào một số định hướng chiến lược.
Cụ thể, tiếp tục hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực tài nguyên. Tập trung rà soát, đồng bộ hóa Luật Thủy sản với Luật Đất đai và Luật Biển nhằm tháo gỡ triệt để vướng mắc trong quy trình giao, cho thuê khu vực biển, mặt nước, đất đai phục vụ nuôi trồng thủy sản. Rút ngắn thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép nuôi biển xa bờ theo Đề án 1664/QĐ-TTg. Xây dựng cơ chế tín dụng xanh, ưu đãi thuế và phí sử dụng khu vực biển đối với các doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng cốt lõi (trung tâm logistics thủy sản, cảng cá loại I, khu neo đậu tránh bão tập trung). Ban hành các gói hỗ trợ đặc thù nhằm chuyển đổi sinh kế cho ngư dân từ khai thác ven bờ sang các mô hình nuôi biển công nghiệp hoặc dịch vụ du lịch sinh thái.
Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, hình thành vùng nuôi quy mô lớn, đạt chứng chỉ bền vững gắn với truy xuất vùng nuôi. Tổ chức người nuôi nhỏ lẻ tham gia vào các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới. Tổ chức lại sản xuất theo hướng cấp và quản lý mã số vùng nuôi (mã số nhận diện cơ sở) một cách thực chất, đồng bộ hóa quy trình theo các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế (ASC, BAP, GlobalGAP). Phát triển chuỗi liên kết, xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ và chia sẻ lợi ích giữa cơ sở sản xuất giống - nhà máy thức ăn - hộ nuôi trồng - doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.
Tăng đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đây là động lực then chốt nâng cao năng suất và chất lượng. Chủ động đột phá về công nghệ con giống, ưu tiên nguồn lực nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, chọn giống tiên tiến nhằm chủ động 100% nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao và cá giống đặc sản. Phát triển các dòng giống thủy sản có các đặc tính ưu việt tăng trưởng nhanh, kháng bệnh và thích ứng được với biên độ mặn biến động lớn. Hiện đại hóa quy trình nuôi trồng và quản lý, thúc đẩy chuyển giao và phổ biến các tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận. Ứng dụng hệ thống nuôi tuần hoàn trong nhà màng (RAS), công nghệ Biofloc để kiểm soát tuyệt đối an toàn sinh học. Số hóa toàn diện thông qua việc áp dụng hệ thống cảm biến IoT giám sát chất lượng nước tự động, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích dịch bệnh, kiểm soát lượng thức ăn nhằm tối ưu hóa hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), hạ giá thành sản xuất để cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế.
Thu hoạch tôm càng xanh ở Vĩnh Long.
Về thị trường, duy trì thị trường hiện tại, phát triển các thị trường mới, tập trung tháo gỡ rào cản phi thuế quan. Tập trung tối ưu hóa quy trình kỹ thuật để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ hệ thống thanh tra an toàn thực phẩm nước ngoài (như FSIS của Mỹ). Tăng cường năng lực pháp lý để ứng phó hiệu quả với các vụ kiện chống trợ cấp, chống bán phá giá (CVD). Kiên quyết thực thi các biện pháp hành chính và kỹ thuật để gỡ bỏ hoàn toàn và bền vững thẻ vàng IUU của EC. Tái cơ cấu thị trường và sản phẩm hiệu quả theo nhu cầu.
Đối với các ngành hàng chủ lực (tôm, cá tra), chuyển dịch mạnh mẽ sang phân khúc chế biến sâu, chế biến sẵn có giá trị gia tăng cao thay vì xuất khẩu thô thâm dụng sinh khối. Chiến lược đa dạng hóa đối tượng nuôi thông qua định hướng giảm dần tỷ trọng diện tích các đối tượng nuôi thông thường đang chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt. Quy hoạch phát triển các dòng sản phẩm ngách có giá trị kinh tế đặc biệt cao nhưng không đòi hỏi diện tích lớn (như cá biển sâu, tôm hùm, rong tảo biển xuất khẩu, hải sâm, nhuyễn thể) phục vụ thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Nâng cao năng lực chống chịu và thích ứng biến đổi khí hậu. Chủ động quản lý rủi ro thiên tai và dịch bệnh. Đầu tư đồng bộ hệ thống trạm quan trắc môi trường tự động và cảnh báo sớm thiên tai, dịch bệnh tại các vùng nuôi tập trung lớn, đặc biệt là vùng ĐBSCL và các tỉnh ven biển miền Trung. Phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái. Triển khai hiệu quả Đề án bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản. Thực hiện nghiêm ngặt quy trình xử lý nước thải, bùn thải trước khi xả thải ra môi trường chung. Đẩy mạnh các mô hình nuôi kết hợp có tính chất phục hồi sinh thái (nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn, nuôi xen canh thủy sản - lúa) nhằm xây dựng các vùng đệm sinh học chống chọi với hiện tượng xâm nhập mặn và nước biển dâng.

Thu hoạch cá tra.
Thực hiện chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, tạo động lực tăng trưởng mới cho lĩnh vực thủy sản. Chủ động xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hạch toán “dấu chân carbon” (Carbon Footprint) trên chuỗi sản phẩm tôm và cá tra nhằm vượt qua các định chế kỹ thuật mới như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU. Khuyến khích các nhà máy chế biến và vùng nuôi thâm canh ứng dụng năng lượng tái tạo (điện mặt trời mái nhà, năng lượng sóng/gió tại các cơ sở nuôi biển).
Phát triển công nghiệp hóa sinh học phụ phẩm. Định hình ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm thủy sản thành một trụ cột tăng trưởng mới. Toàn bộ nguồn đầu cá, xương cá, nội tạng và vỏ tôm (chiếm từ 35-40% khối lượng nguyên liệu thô) phải được thu gom và ứng dụng công nghệ sinh học để chiết xuất các hợp chất hữu cơ cao cấp như Chitin, Chitosan, Collagen, Peptides sinh học, thức ăn bổ sung thế hệ mới…
*Bài viết của ông Đặng Ngọc Điệp - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
* Tiêu đề do Báo Tiền Phong đặt.
Cảnh Kỳ | Linh Anh
1 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
14 ngày trước
19 ngày trước
25 ngày trước
26 ngày trước
29 ngày trước
14 phút trước
3 giờ trước
13 phút trước
7 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
4 phút trước
7 phút trước