Phát triển kinh tế tri thức - Nhận diện 'điểm nghẽn' để phát triển
Sử dụng nền tảng thể chế chính sách để nhận diện “điểm nghẽn”
Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách kịp thời nhằm tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức - lực lượng nòng cốt trong phát triển khoa học, công nghệ và tri thức xã hội. Thời gian gần đây, các nghị quyết về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và phát triển nguồn nhân lực đã góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, đồng thời hình thành nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Trong đó, một loạt nghị quyết quan trọng của Trung ương tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia. Điển hình, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo: từ việc coi khoa học và công nghệ là lĩnh vực hỗ trợ sang xác định đây là động lực trung tâm của tăng trưởng nhanh và bền vững. Việc ban hành Nghị quyết 57 không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ mà còn gửi đi thông điệp rõ ràng về sự thống nhất giữa tầm nhìn chiến lược và hành động thực tiễn. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển, gắn trực tiếp với các mục tiêu nâng cao năng suất, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế tri thức.
Tinh thần khẩn trương này nhanh chóng được cụ thể hóa ở cấp lập pháp. Ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết này mở ra hành lang pháp lý quan trọng để khơi thông nguồn lực, tháo gỡ những “điểm nghẽn” về cơ chế tài chính, đầu tư và sử dụng nhân lực khoa học - công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để thử nghiệm các mô hình phát triển mới trong một môi trường thể chế linh hoạt hơn.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt nền tảng hoàn thiện thể chế, bảo đảm môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho phát triển. Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước cũng xác định: Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, việc làm chủ các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược đang trở thành yếu tố then chốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai khoa học và công nghệ tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tình trạng phân tán nguồn lực và quy mô các nhiệm vụ nghiên cứu còn nhỏ lẻ.
Từ năm 2025, nguồn lực ngân sách dành cho lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được tăng cường cả về quy mô và tỷ trọng trong tổng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nếu cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực không được điều chỉnh phù hợp, nguồn lực gia tăng này có thể chưa phát huy hết hiệu quả chiến lược. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, thực tiễn triển khai trong giai đoạn 2021 - 2024 cho thấy một số hạn chế đáng chú ý trong hệ thống quản lý chương trình khoa học và công nghệ. Trước hết là vấn đề phân bổ nguồn lực. Tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ so với GRDP tại nhiều địa phương hiện vẫn ở mức thấp, thường dưới 0,1%. Mức đầu tư này thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia có nền khoa học - công nghệ phát triển, dẫn tới quy mô đầu tư cho từng nhiệm vụ còn nhỏ và khó tạo ra những dự án nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lớn.
Một vấn đề khác là cơ cấu đầu tư cho hạ tầng khoa học và công nghệ chưa thực sự tương xứng với yêu cầu phát triển. Nhiều phòng thí nghiệm và cơ sở nghiên cứu chưa được nâng cấp đồng bộ, thiếu trang thiết bị hiện đại. Trong khi đó, phần lớn nguồn lực vẫn tập trung vào hoạt động nghiên cứu, còn tỷ lệ dành cho đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Điều này khiến quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và ứng dụng trong thực tiễn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi.
Ngoài ra, sự tham gia của khu vực doanh nghiệp trong đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn còn khiêm tốn. Tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp vào tổng chi cho R&D tại Việt Nam chưa cao so với nhiều quốc gia phát triển. Điều này khiến hệ thống khoa học và công nghệ vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngân sách nhà nước, trong khi vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp - yếu tố quan trọng trong đổi mới công nghệ - chưa được phát huy đầy đủ.
Theo thống kê, trong giai đoạn 2015 - 2025, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã mở rộng đáng kể với 42 chương trình và gần 5.000 nhiệm vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các nhiệm vụ này có quy mô nhỏ và phân tán, chủ yếu giải quyết những vấn đề nghiên cứu hẹp, nên khó tạo ra sản phẩm công nghệ có tác động lớn đối với nền kinh tế. Trong khi đó, danh mục công nghệ chiến lược của quốc gia hiện bao gồm 11 nhóm công nghệ và 35 nhóm sản phẩm trọng điểm. Việc phát triển các công nghệ này đòi hỏi cách tiếp cận hoàn toàn khác so với các nhiệm vụ nghiên cứu truyền thống. Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu khoa học, các chương trình công nghệ chiến lược còn bao gồm cả quá trình làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm, thử nghiệm và thương mại hóa. Điều này đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, cơ chế quản lý linh hoạt và sự tham gia của nhiều chủ thể, đặc biệt là doanh nghiệp.
Tái cấu trúc toàn diện hệ thống chương trình khoa học - công nghệ
Trước những hạn chế nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất tái cấu trúc toàn diện hệ thống chương trình khoa học và công nghệ nhằm tập trung nguồn lực cho các công nghệ chiến lược của quốc gia. Theo định hướng này, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của các Bộ, ngành sẽ được tổ chức lại theo hướng tinh gọn và phân tầng chức năng thành sáu chương trình lớn. Sáu trụ cột này bao gồm: chương trình nghiên cứu cơ bản và khoa học nền tảng; chương trình phát triển công nghệ chiến lược quốc gia; chương trình đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp; chương trình hạ tầng và nhân lực khoa học - công nghệ; chương trình khoa học và công nghệ quốc gia; và chương trình chuyển đổi số gắn với địa phương.
Trong đó, chương trình phát triển công nghệ chiến lược quốc gia được xác định là trụ cột đặc biệt quan trọng, nhằm tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán công nghệ lớn của đất nước. Thay vì dàn trải nguồn lực cho nhiều nhiệm vụ nhỏ lẻ, cách tiếp cận mới hướng tới việc hình thành các dự án công nghệ quy mô lớn, có khả năng tạo ra tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Một điểm đổi mới đáng chú ý là việc chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy mô lớn. Theo đó, các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp sẽ công bố những bài toán công nghệ quan trọng cần giải quyết, sau đó lựa chọn đơn vị thực hiện dựa trên năng lực giải quyết vấn đề và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Các dự án sẽ được quản lý theo tiến độ kỹ thuật và kết quả sản phẩm thay vì chủ yếu kiểm soát chứng từ tài chính như trước đây. Cơ chế mới cũng cho phép chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Những dự án thất bại do rủi ro khách quan nhưng đã được triển khai đúng quy trình sẽ không phải bồi hoàn kinh phí. Cách tiếp cận này nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho các nghiên cứu đột phá, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới có mức độ rủi ro cao.
Đỗ Trang
3 giờ trước
4 giờ trước
8 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
41 phút trước
Vừa xong
Vừa xong
12 phút trước
12 phút trước
13 phút trước
14 phút trước
15 phút trước
16 phút trước