Phân cấp chứng nhận gạo thơm: Trao quyền cho địa phương đi đôi với hậu kiểm

Việc trao quyền cho địa phương cũng giúp cơ quan chuyên môn bám sát hơn vùng nguyên liệu, quá trình sản xuất và nhu cầu của doanh nghiệp trên địa bàn. Ảnh: chinhphu.vn
Phân cấp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Chủ trương phân cấp thẩm quyền chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) được triển khai trên cơ sở Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính, cùng các quy định tại Nghị định số 103/2020/NĐ-CP, Nghị định số 11/2022/NĐ-CP và Nghị định số 33/2026/NĐ-CP.
Theo quy định mới, từ ngày 01/7/2026, cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ sẽ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và cấp giấy chứng nhận chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh. Trước đây, thủ tục này thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Việc phân cấp không làm thay đổi căn cứ chuyên môn của hoạt động chứng nhận. Hồ sơ vẫn được xem xét trên cơ sở biên bản kiểm tra ruộng lúa thơm do các tổ chức khảo nghiệm lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan cấp giấy chứng nhận không tổ chức kiểm tra thực địa lại, thời gian giải quyết hồ sơ tối đa vẫn là 5 ngày làm việc.
Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không còn phải gửi hồ sơ về cơ quan Trung ương mà có thể thực hiện ngay tại địa phương. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thơm tại Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng hay Cần Thơ, thay đổi này giúp giảm thời gian đi lại, tiết kiệm chi phí giao dịch và chủ động hơn trong kế hoạch giao hàng.
Ở góc độ quản lý, việc trao quyền cho địa phương cũng giúp cơ quan chuyên môn bám sát hơn vùng nguyên liệu, quá trình sản xuất và nhu cầu của doanh nghiệp trên địa bàn. Qua đó, việc giải quyết thủ tục hành chính gắn chặt hơn với thực tiễn sản xuất thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan quản lý Trung ương.
Ý nghĩa của việc cắt giảm chi phí tuân thủ càng rõ trong bối cảnh xuất khẩu gạo đang chịu nhiều sức ép. Theo số liệu của Cục Hải quan, 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,09 tỷ USD, tăng 6,6% về lượng nhưng giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân chỉ còn khoảng 467,6 USD/tấn, giảm gần 10%.
Trong khi đó, EU và Vương quốc Anh không chỉ dành ưu đãi thuế quan cho gạo thơm của Việt Nam theo EVFTA và UKVFTA mà còn đặt ra các yêu cầu chặt chẽ về chủng loại giống, truy xuất nguồn gốc và tính xác thực của hồ sơ. Vì vậy, việc cải cách thủ tục hành chính không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế.
Hiệu quả phụ thuộc vào sự sẵn sàng của địa phương
Để chuẩn bị cho việc chuyển giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Công văn số 4946/BNNMT-TTTV ngày 18/5/2026 hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện.
Theo ông Nguyễn Văn Vương - Trưởng phòng Quản lý giống cây trồng, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các địa phương cần khẩn trương phổ biến quy định mới, đồng thời gửi mẫu chữ ký của người có thẩm quyền ký giấy chứng nhận và mẫu dấu của cơ quan thực hiện để Bộ tổng hợp, thông báo tới cơ quan có thẩm quyền của EU và Vương quốc Anh.
Tuy nhiên, tiến độ chuẩn bị giữa các địa phương vẫn chưa đồng đều. Đến giữa tháng 6/2026, mới có 8/34 tỉnh, thành phố thuộc diện triển khai gửi văn bản giới thiệu mẫu chữ ký và mẫu dấu về Bộ để tổng hợp, thông báo tới cơ quan có thẩm quyền của EU và Vương quốc Anh. Đây là điều kiện bắt buộc để giấy chứng nhận do địa phương cấp được phía đối tác chấp nhận khi cơ chế mới có hiệu lực từ ngày 01/7.
“Nếu các địa phương chậm hoàn tất các thủ tục chuẩn bị, hoạt động xuất khẩu gạo thơm của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng ngay trong giai đoạn đầu triển khai” - ông Vương lưu ý.
Không chỉ chuẩn bị về thủ tục, việc phân cấp còn đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các địa phương. Với ngành hàng lúa gạo, chuỗi sản xuất thường trải rộng trên nhiều tỉnh, thành phố. Vùng nguyên liệu có thể nằm tại Sóc Trăng hoặc An Giang; doanh nghiệp thu mua, chế biến đặt tại Đồng Tháp, Long An hoặc Tiền Giang; trong khi hoạt động xuất khẩu được thực hiện qua doanh nghiệp có trụ sở tại Cần Thơ hoặc TP. Hồ Chí Minh. Điều đó đòi hỏi việc xác nhận chủng loại gạo thơm phải dựa trên hệ thống thông tin được chia sẻ thống nhất, thay vì xử lý theo địa giới hành chính.
Nếu dữ liệu về vùng trồng, kết quả khảo nghiệm và hồ sơ chứng nhận chưa được kết nối đồng bộ, doanh nghiệp có thể phải thực hiện nhiều thủ tục xác nhận tại các địa phương khác nhau. Khi đó, mục tiêu cắt giảm chi phí tuân thủ rất dễ bị triệt tiêu bởi các khâu trung gian mới phát sinh. Vì vậy, cùng với việc phân cấp thẩm quyền, việc xây dựng cơ chế phối hợp liên tỉnh và từng bước số hóa dữ liệu chứng nhận cần được triển khai đồng thời để bảo đảm quy trình vận hành thống nhất.
Bên cạnh đó, phân cấp không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Giấy chứng nhận chủng loại gạo thơm là căn cứ để doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA và UKVFTA. Mọi sai sót trong quá trình xác nhận, từ chủng loại giống, vùng sản xuất đến tính chính xác của hồ sơ, đều có thể ảnh hưởng đến uy tín của gạo Việt Nam trên thị trường nhập khẩu. Vì vậy, cùng với việc trao quyền cho địa phương, vai trò hướng dẫn, kiểm tra và hậu kiểm của cơ quan quản lý Trung ương cần tiếp tục được tăng cường nhằm bảo đảm việc thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước.
Ở góc độ doanh nghiệp, điều được kỳ vọng không chỉ là một thủ tục được giải quyết nhanh hơn mà còn là một cơ chế vận hành ổn định, minh bạch và có thể dự báo. Khi hồ sơ được xử lý thông suốt, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong ký kết hợp đồng, tổ chức sản xuất và giao hàng đúng tiến độ. Ngược lại, chỉ một khâu chậm trễ trong hoạt động chứng nhận cũng có thể kéo theo chi phí lưu kho, chậm giao hàng hoặc bỏ lỡ cơ hội tận dụng ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.
Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Lộc Trời, ông Huỳnh Văn Thòn, nhiều lần nhấn mạnh rằng giá trị của ngành lúa gạo không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở khả năng xây dựng một chuỗi sản xuất minh bạch, có truy xuất nguồn gốc và được quản trị thống nhất. Trong bối cảnh yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe, việc hoàn thiện cơ chế chứng nhận cũng là một mắt xích quan trọng trong quá trình xây dựng chuỗi giá trị đó./.
HỒNG NHUNG
7 phút trước
1 giờ trước
43 phút trước
59 phút trước
9 phút trước
13 phút trước
14 phút trước
16 phút trước
19 phút trước
23 phút trước
25 phút trước
25 phút trước