🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nửa cuối tháng 3, cán cân thương mại thâm hụt 56,48 triệu USD

14 giờ trước
Nửa cuối tháng 3/2026, cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam vẫn thâm hụt 56,48 triệu USD. Đáng chú ý, cơ cấu thương mại tiếp tục có sự dịch chuyển rõ nét khi xuất khẩu nghiêng về nhóm nguyên liệu, năng lượng thay vì các ngành công nghệ cao…

Cán cân thương mại thâm hụt 56,48 triệu USD

Theo báo cáo sơ bộ từ Cục Hải quan, trong nửa cuối tháng 3/2026 (từ ngày 16 – 31/3), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đạt khoảng 52,13 tỷ USD, tăng 26,44% so với kỳ 1 tháng 3/2026. Lũy kế 3 tháng đầu năm, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 249,5 tỷ USD, tăng 22,97% so với cùng kỳ năm 2025.

Xét riêng chiều xuất khẩu, tổng trị giá xuất khẩu trong kỳ 2 tháng 3/2026 đạt khoảng 26,04 tỷ USD, tăng 27,95% so với kỳ 1 cùng tháng. Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 3, kim ngạch xuất khẩu đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,08% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đáng chú ý, tăng trưởng xuất khẩu trong kỳ có xu hướng nghiêng mạnh về nhóm nguyên liệu và năng lượng, thay vì các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản phẩm công nghệ cao.

Xét tổng thể, nhóm hàng công nghiệp chế tạo vẫn giữ vai trò chủ đạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu với quy mô xuất khẩu đều đạt trên 1 tỷ USD, nhưng tốc độ tăng lại có dấu hiệu suy yếu. Đáng chú ý, nhóm điện thoại và linh kiện, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực chỉ đạt 2,56 tỷ USD, giảm 15,69% so với kỳ 1, qua đó kéo giảm tốc độ tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp chế biến.

Cụ thể, xuất khẩu xăng dầu và than đá dù chỉ đạt lần lượt khoảng 8,43 triệu USD và 15,34 triệu USD, nhưng tăng gấp 16–20 lần so với kỳ 1 tháng 3/2026. Dù trị giá xuất khẩu còn khiêm tốn so với các ngành chủ lực, nhưng mức tăng cao cho thấy sự xuất hiện của các lô hàng lớn hoặc tác động từ biến động giá năng lượng thế giới.

Ngược lại, nhóm năng lượng và nguyên liệu ghi nhận mức tăng trưởng đột biến và là động lực chính cho đà tăng trưởng trong kỳ.

Song song với đó, nhóm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp cũng tăng trưởng mạnh. Sắt thép các loại đạt 449,3 triệu USD, tăng trên 80,87%; hóa chất đạt 181,76 triệu USD, tăng 82,93%; xuất khẩu đồng đạt 75,04 triệu USD, tăng 63,62%. Những con số này phản ánh nhu cầu gia tăng từ các thị trường nhập khẩu trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Việc nhóm năng lượng và nguyên liệu tăng mạnh đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu trong kỳ, khi tỷ trọng các mặt hàng này gia tăng nhanh, trong khi nhóm công nghệ cao suy giảm tương đối. Điều này cho thấy sự dịch chuyển mang tính ngắn hạn theo hướng gia tăng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến thấp hơn, đặt ra vấn đề về tính bền vững trong dài hạn.

Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 3/2026 và kỳ 1 tháng 3/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Mặc dù nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu xuất khẩu, song động lực tăng trưởng vẫn chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Trong ngắn hạn, nếu các ngành điện tử và điện thoại phục hồi, tăng trưởng xuất khẩu có thể nhanh chóng cải thiện. Tuy nhiên, về dài hạn, yêu cầu đặt ra vẫn là nâng cao tỷ trọng các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo tính bền vững cho xuất khẩu.

Trong kỳ 2 tháng 3/2026, khu vực FDI đạt kim ngạch khoảng 20,92 tỷ USD, tăng 27,62% so với kỳ trước và chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng này cho thấy khu vực FDI gần như chi phối toàn bộ các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Phần lớn các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; máy móc, thiết bị… đều do khối doanh nghiệp FDI dẫn dắt.

Vì vậy, khi các doanh nghiệp FDI điều chỉnh sản xuất hoặc nhu cầu thị trường thế giới biến động, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng chịu tác động mạnh, thể hiện rõ qua sự sụt giảm của nhóm điện thoại trong kỳ này.

Ở chiều ngược lại, trong 15 ngày cuối tháng 3/2026, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 26,1 tỷ USD, tăng 24,97% so với kỳ 1 tháng 3/2026. Tính lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 31/3, kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 126,57 tỷ USD, tăng tới 27% so với cùng kỳ năm 2025.

Tương tự như xuất khẩu, cơ cấu nhập khẩu trong kỳ 2 tháng 3/2026 cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt theo hướng gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất, phục vụ cho chuỗi sản xuất trong nước thay vì tập trung vào nhóm công nghiệp chế biến chế tạo.

Một điểm đáng chú ý trong cơ cấu nhập khẩu kỳ này là sự gia tăng mạnh của nhóm năng lượng, đặc biệt là xăng dầu. Mặt hàng này đạt kim ngạch khoảng 925,5 triệu USD, tăng tới 88,22% so với kỳ 1.

Đáng chú ý, trong bối cảnh Nghị định số 72/2026/NĐ-CP điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số sản phẩm xăng dầu về mức 0%, doanh nghiệp đã có điều kiện mở rộng nguồn cung ngoài các thị trường truyền thống, góp phần ổn định nguồn cung trong nước.

Sự gia tăng này không chỉ phản ánh nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất trong nước mà còn chịu ảnh hưởng rõ nét từ những căng thẳng địa chính trị. Những bất ổn liên quan đến nguồn cung dầu mỏ, gián đoạn chuỗi vận chuyển và biến động giá năng lượng toàn cầu đã khiến nhiều quốc gia chủ động gia tăng nhập khẩu nhằm đảm bảo an ninh năng lượng trong ngắn hạn.

Dù không ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, nhóm hàng công nghệ cao vẫn đóng góp quan trọng vào quy mô nhập khẩu.

Cụ thể, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt khoảng 3,30 tỷ USD và tăng 46,13%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng tăng 54,12%. Tuy nhiên, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện dù vẫn là nhóm có kim ngạch lớn nhất với 9,23 tỷ USD, nhưng chỉ tăng 10,13%. Trong khi đó, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 1,29%.

Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 3/2026 và kỳ 1 tháng 3/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Đáng chú ý, khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chi phối trong hoạt động nhập khẩu khi đạt kim ngạch khoảng 18,26 tỷ USD, tăng 20,93% so với kỳ 1 và chiếm gần 70% tổng kim ngạch nhập khẩu trong kỳ 2 tháng 3/2026.

Sự gia tăng nhập khẩu của khu vực này phản ánh xu hướng mở rộng sản xuất, gia tăng đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới. Tuy nhiên, ở góc độ cơ cấu, điều này cũng cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI. Giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế khi nhiều doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu cung ứng đầu vào, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và sản xuất linh kiện.

Hoàng Sơn

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ