Nông dân Tây Nguyên thoát nghèo bền vững nhờ công nghệ và chuyển đổi số

Điều khiển thiết bị tưới bằng hệ thống phần mềm qua điện thoại thông minh tại HTX Sunfood Đà Lạt.
Tây Nguyên được đánh giá là vùng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp nhờ quỹ đất rộng, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây trồng giá trị. Tuy nhiên, địa hình đồi núi phức tạp, thời tiết diễn biến thất thường và hạ tầng còn hạn chế khiến sản xuất nông nghiệp nhiều năm qua gặp không ít khó khăn. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không còn là khái niệm xa vời mà đang trở thành giải pháp thực tiễn, giúp nông dân thay đổi tư duy canh tác, tiếp cận khoa học công nghệ và từng bước thoát nghèo bền vững.
Những năm gần đây, cùng với chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhiều địa phương tại Tây Nguyên đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số trong sản xuất. Các hợp tác xã nông nghiệp giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức lại sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật, kết nối thị trường và đưa công nghệ đến gần hơn với nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ, GIẢM SỨC LAO ĐỘNG, TĂNG HIỆU QUẢ
Tại Lâm Đồng, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Tân Tiến là một trong những mô hình tiêu biểu về ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Thay cho phương thức canh tác truyền thống phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và lao động thủ công, đơn vị này đã đầu tư hệ thống tưới tự động, quản lý dinh dưỡng cây trồng và số hóa quy trình sản xuất.
Ông Mai Văn Khẩn, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, cho biết việc ứng dụng công nghệ giúp cân đối chính xác lượng nước và dinh dưỡng cho cây trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng. Nhờ đó, cây phát triển đồng đều, hạn chế sâu bệnh và nâng cao năng suất. Trước đây, để quản lý 5 ha vườn sản xuất, hợp tác xã cần tới 5 công nhân làm việc thường xuyên. Hiện nay, với hệ thống tự động hóa, chỉ còn 2 người vẫn có thể vận hành hiệu quả.
Không chỉ giảm chi phí lao động, công nghệ còn giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất. Là thành viên hợp tác xã, anh Đào Ngọc Tướng Quân cho biết hệ thống pha trộn và tưới tự động dung tích 10.000 lít đã rút ngắn thời gian làm việc từ hàng giờ xuống chỉ còn khoảng 20 phút mỗi lần vận hành. Nhờ chăm sóc cây trồng chính xác và đồng đều, năng suất tăng từ mức 6–7 kg/cây lên 7–8 kg/cây, chất lượng nông sản cũng ổn định hơn.
Thực tế cho thấy, khi công nghệ được áp dụng phù hợp, người nông dân không chỉ giảm bớt sức lao động mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các hộ sản xuất nhỏ, hộ thiếu lao động hoặc người lớn tuổi, những đối tượng dễ bị tổn thương trước biến động của thị trường và thời tiết.
Bên cạnh các mô hình tưới tự động, nhiều hợp tác xã tại Lâm Đồng còn chủ động tìm giải pháp công nghệ thích ứng với điều kiện địa hình khó khăn. Hợp tác xã Thủy canh Việt là một ví dụ điển hình. Xuất phát từ thực tế quỹ đất canh tác không đồng đều, nguồn nước ngày càng hạn chế, đơn vị này đã nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thủy canh hồi lưu, kết hợp linh hoạt giữa thủy canh giá thể, thủy canh nước và khí canh.
Theo ông Nguyễn Đức Duy, Giám đốc hợp tác xã, hệ thống tuần hoàn giúp tiết kiệm khoảng 90% lượng nước và 75% lượng phân bón so với phương pháp truyền thống. Đáng chú ý, quy trình vận hành được thiết kế đơn giản, không đòi hỏi người nông dân phải có kiến thức chuyên sâu về công nghệ, đồng thời giảm nguy cơ sâu bệnh trên cây trồng tới 90%.

Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đắk Lắk hỗ trợ thành viên các hợp tác xã tập huấn livetream bán hàng trên sàn thương mại điện tử.
Nhờ những cải tiến này, chi phí đầu vào được kiểm soát tốt hơn, rủi ro trong sản xuất giảm đáng kể. Nông dân tham gia mô hình không chỉ nâng cao hiệu quả canh tác mà còn tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Đây được xem là hướng đi phù hợp, giúp người dân vùng sâu, vùng xa từng bước tiếp cận nông nghiệp công nghệ cao mà không bị rào cản quá lớn về vốn và trình độ.
GẮN KẾT SẢN XUẤT VÀ THỊ TRƯỜNG TRÊN NỀN TẢNG SỐ
Nếu như công nghệ giúp giải bài toán năng suất và chi phí, thì chuyển đổi số trong tiêu thụ lại mở ra cánh cửa thị trường cho nông sản Tây Nguyên. Tại xã Ea Bung, tỉnh Đắk Lắk, Hợp tác xã giảm nghèo Ea Súp đã giúp người dân chuyển từ sản xuất lúa tự cung tự cấp sang kinh doanh gạo đặc sản theo chuỗi giá trị.
Trước đây, bà con chủ yếu trồng lúa để phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình, thu nhập không ổn định. Khi tham gia hợp tác xã, người dân được hướng dẫn áp dụng kỹ thuật mới, tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc đã giúp hạt gạo địa phương từng bước khẳng định vị thế trên thị trường.
Anh Nguyễn Việt Đức, Giám đốc hợp tác xã, cho biết toàn bộ thông tin về lô hàng, hộ sản xuất và quy trình canh tác đều được cập nhật trên hệ thống quản lý. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã QR trên bao bì để kiểm tra nguồn gốc sản phẩm. Cách làm này không chỉ nâng cao niềm tin của khách hàng mà còn tạo điều kiện để gạo đặc sản Ea Bung tiếp cận nhiều thị trường trong nước, mang lại thu nhập ổn định cho các hộ tham gia.
Song song với truy xuất nguồn gốc, nhiều hợp tác xã tại Tây Nguyên đã tận dụng mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ nông sản. Những hình ảnh, video ngắn ghi lại quá trình chăm sóc và thu hoạch cây trồng được chia sẻ thường xuyên, giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về chất lượng sản phẩm và quy trình sản xuất.
Chị Lê Thị Ánh Tuyết, thành viên Hợp tác xã Vườn Nhà Đà Lạt, cho biết nhờ các kênh trực tuyến, khách hàng biết đến sản phẩm nhiều hơn mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái. Hiện nay, doanh thu từ khách hàng online chiếm khoảng 70% tổng doanh thu, góp phần cải thiện rõ rệt thu nhập của các thành viên.

Nông nghiệp công nghệ cao mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho nông dân vùng sâu.
Theo thống kê đến giữa năm 2025, toàn vùng Tây Nguyên có hơn 1.500 hợp tác xã nông nghiệp, riêng Lâm Đồng có trên 450 hợp tác xã. Trong số này, khoảng 20% đã ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản lý. Nhiều hợp tác xã còn triển khai mã số riêng cho từng hộ thành viên, giúp kiểm soát chất lượng nông sản, bảo đảm minh bạch và truy xuất nguồn gốc, từ đó tạo nguồn thu ổn định cho hàng trăm hộ gia đình.
Hai năm qua, tỉnh Lâm Đồng đã bố trí hơn 70 tỷ đồng hỗ trợ các hợp tác xã xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh, phát triển sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Nhờ đó, doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã đạt khoảng 2,2 tỷ đồng/năm, đời sống của người nông dân từng bước được nâng lên. Cùng với nguồn lực từ ngân sách, các hợp tác xã còn được hỗ trợ kết nối với các doanh nghiệp viễn thông lớn để tiếp cận nền tảng số, mở rộng kênh phân phối và gia tăng giá trị nông sản.
Thực tiễn từ các mô hình tại Lâm Đồng và Đắk Lắk cho thấy, khi khoa học công nghệ và chuyển đổi số được triển khai phù hợp với điều kiện địa phương, nông nghiệp không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn mở ra con đường thoát nghèo bền vững cho người dân vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên.
Nguyễn Thuấn
1 ngày trước
6 giờ trước
4 giờ trước
4 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
13 phút trước