Nơi Quốc tổ Lạc Long Quân và 50 người con dừng chân lập nghiệp

Đền Nội Bình Đà thờ Quốc tổ Lạc Long Quân.
Hàng năm, cứ từ ngày 25/2 đến 6/3 âm lịch, đền Nội Bình Đà lại rộn vang trống hội. Con đường làng vốn lặng lẽ bỗng trở nên chật hẹp bởi dòng người đổ về giếng Ngọc - nơi ví như “con mắt” linh thiêng của muôn dân bách Việt tưởng nhớ vị Quốc tổ Lạc Long Quân.
Huyền tích Lạc Long Quân ở Bình Đà
Trong lớp vải đỏ phủ kín, chiếc bánh thánh được đưa tới mép nước. Những người đứng gần nhất cũng không thể nhìn thấy hình dạng thật. Không ai biết chiếc bánh ấy được nặn ra sao, mang hình hài thế nào. Tất cả chỉ có thể cảm nhận qua một lớp vải mỏng và qua niềm tin đã truyền từ đời này sang đời khác.
Bằng một động tác dứt khoát nhưng đầy kính cẩn, người chủ tế thả chiếc bánh xuống lòng giếng sâu - nơi dân gian tin rằng có mạch ngầm thông tới thủy cung. Khoảnh khắc ấy, người ta không chỉ chứng kiến một nghi lễ, mà đang dự phần vào cuộc trình kiến kéo dài nghìn năm với cội nguồn tiên tổ, đúng như lời dạy: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn/ Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu”.
Trong tâm thức người Việt, Lạc Long Quân là biểu tượng của khởi nguyên. Là con của Kinh Dương Vương và Thần Long, Lạc Long Quân mang trong mình dòng dõi của thủy thần. Cuộc gặp gỡ với Âu Cơ - người con gái thuộc dòng tiên đã tạo thành biểu tượng văn hóa độc đáo với bọc trăm trứng nở ra trăm con.
Một hôm, Lạc Quân nói với Âu Cơ: “Ta vốn là con cháu thủy thần, nàng thuộc nòi Tiên không thể kết hợp lâu dài. Nay nàng đem 50 con lên núi, ta đem 50 con xuống biển cùng khai mở cơ nghiệp”. Âu Cơ vâng lời đem theo 50 người con về đất Phong Châu núi non hùng vĩ. Người con trưởng ở lại Nghĩa Lĩnh xưng Vương, lấy hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang, tụ tập anh tài và dân chúng xây dựng cơ nghiệp truyền ngôi được 18 đời đều gọi là Hùng Vương.
Sau khi chia tay Âu Cơ, Lạc Long Quân đưa 50 người con xuôi đường ra Nam Hải đến vùng đất Bảo Cựu (tức là Bình Đà ngày nay) cách biển không xa. Lạc Long Quân truyền cho các con dừng chân dựng trại, nổi lửa nấu ăn. Thấy thế đất nơi đây màu mỡ, sông suối lượn quanh, bèn quyết chọn đất này dựng xây cơ nghiệp.
Ngày ngày, Lạc Long Quân cùng quần thần văn võ dạy dân trồng lúa nước, lấn biển làm nhà, dạy dân trồng dâu nuôi tằm dệt vải, đuổi diệt thú dữ; lại truyền cho các con chọn những người dân khỏe mạnh tỏa đi các vùng duyên hải khai khẩn đất đai mở mang bờ cõi. Chẳng bao lâu cả vùng đất với trung tâm là Bảo Cựu, cuộc sống dân lành trù phú; thảo khấu, thú dữ bị dẹp tan; tiếng lành đồn xa, người dân khắp nơi quy tụ về đất linh để bái yết Long Quân cho phép làm thần dân của người.
Vào một ngày cuối tháng 2, trời bỗng nổi cơn giông gió, sấm chớp lóe sáng cả vùng, Lạc Long Quân ăn vận trang phục oai phong lẫm liệt, thân thương nhìn các con cháu và dân làng một lượt rồi hóa trong đêm. Cảm thương và tỏ lòng tri ân với người có công khai phá vùng đất Bảo Cựu, vua quan cùng dân chúng quanh vùng tổ chức tế lễ linh đình, táng Ngài ở gò đất cao nhất vùng - sau gọi là đất Tam Thai (Ba Gò), lập miếu quanh năm hương khói phụng thờ.

Bảo vật quốc gia phù điêu Quốc tổ Lạc Long Quân tại đền Nội.
Nơi kết nối cội nguồn dân tộc
Không dừng lại ở câu chuyện dân gian, hình tượng Quốc tổ Lạc Long Quân dần được các triều đại phong kiến tiếp nhận và nâng thành biểu tượng chính thống. Những nghi lễ thờ phụng tại Bình Đà vì thế không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, mà còn mang tính chất của một thiết chế chính trị.
Việc các triều đình phong kiến công nhận và bảo trợ việc thờ cúng Lạc Long Quân cho thấy một quá trình đặc biệt, từ một huyền thoại dân gian được “lịch sử hóa” trở thành nền tảng biểu tượng cho ý thức quốc gia. Đó là cách mà nhà nước phong kiến xưa tìm về cội nguồn, đồng thời củng cố tính chính danh của mình.
Với ý nghĩa ấy, Bình Đà không còn là một làng quê đơn lẻ, mà trở thành một điểm kết nối giữa huyền thoại với thực tế nguồn cội. Những lớp trầm tích lịch sử tại vùng đất này càng làm rõ thêm những điều linh thiêng ấy. Thời kỳ loạn 12 sứ quân, nơi đây từng là căn cứ của Đỗ Cảnh Thạc. Những thành lũy, đồn trại và những cuộc giao tranh ác liệt… vẫn để lại dấu vết trên vùng đất cổ.
Trong không gian đền Nội, những dấu tích ấy dường như được nén lại trong các hiện vật. Nổi bật nhất là bức phù điêu gỗ sơn son thếp vàng được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2015. Trên đó, hình ảnh Lạc Long Quân hiện lên uy nghi trên ngai vàng, xung quanh là quần thần và cảnh sinh hoạt của cư dân Việt cổ.

Đền Nội tọa trên lưng rùa (Hoàng Quy Cung), với thế đất “Lục long triều hội - Lưỡng phượng giao phi”.
Đó không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, mà là một “bản đồ lịch sử”. Mỗi chi tiết chạm khắc đều gợi nhắc tới một lớp văn hóa, một giai đoạn lịch sử, một cách nhìn về vũ trụ. Trong không gian ấy, quá khứ không bị tách rời mà được giữ lại, sắp đặt và kể lại theo cách riêng của các thế hệ.
Thời gian không giữ lại tất cả, dòng sông Đỗ Động từng là mạch nước quan trọng của vùng đất này, nay đã bị bồi lấp chỉ còn lại dấu tích trong những hồ đầm rải rác. Những biến đổi của tự nhiên và con người đã làm thay đổi cảnh quan xưa. Tuy nhiên vẫn có những thứ ở lại, trên cánh đồng thôn Chùa - cây trôi cổ thụ vẫn đứng đó sau hơn một nghìn năm. Thân cây to, rễ bám sâu vào lòng đất, tán xòe rộng như một chiếc ô khổng lồ.
Người Bình Đà kể rằng, cây trôi từng là mốc ranh giới, là nơi canh gác, là chỗ ẩn náu trong những thời loạn lạc. Nó đã chứng kiến những cuộc chiến, những đổi thay, những lớp người đến rồi đi. Nhưng bản thân vẫn đứng đó, như một chứng nhân lặng lẽ.
Không gian của đền Nội cũng vậy, những hàng cây cổ thụ bao quanh, những lớp kiến trúc chồng lên nhau qua nhiều thời kỳ, những hiện vật được gìn giữ tạo nên một cảm giác vừa gần gũi, vừa xa xôi. Người bước vào đó không chỉ bước vào một không gian lịch sử, mà như bước vào ngôi nhà của vị cha là Quốc tổ của muôn dân bách Việt.

Mộ Quốc tổ Lạc Long Quân tại đất Ba Gò.
Bí ẩn nghi lễ thiêng
Trong ngọc phả hiện lưu giữ tại Đền Hùng (niên hiệu Thái Bình thứ hai - 971) có ghi: “Mộ (Lạc Long Quân) táng tại Ba Đống (Ba Gò) đồng thượng Bảo Cựu, hậu cải Bảo Đà”. Đó là dữ liệu duy nhất bằng văn bản hậu thế tin rằng nơi đó là nơi có mộ của Lạc Long Quân. Dù không có chứng cứ khảo cổ nhưng niềm tin ấy vẫn được gìn giữ qua nhiều thế kỷ, được củng cố bằng các nghi lễ thờ phụng suốt hàng nghìn năm qua.
Theo PGS.TS Đinh Quang Hải - nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cũng là người con đất Bình Minh, có nhiều nghiên cứu về lễ hội Bình Đà, thì điều quan trọng không nằm ở việc huyền thoại ấy có thể kiểm chứng đến đâu, mà ở chỗ đã trở thành một phần tâm thức cộng đồng. Khi một câu chuyện được kể qua nhiều thế hệ, được gắn với một không gian cụ thể thì không còn là chuyện kể mà trở thành cội nguồn văn hóa.
“Một huyền thoại chỉ thực sự sống khi tìm được nơi để neo lại, và Bình Đà chính là một nơi như thế. Trong nhiều thế kỷ, 16 vị vua của các triều đại đều đích thân về Bình Đà dâng lễ Đức Quốc tổ. Đã có 16 sắc phong của các triều đại suy tôn Lạc Long Quân là “Khai quốc thần”, hiện được lưu giữ tại đền Nội và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia”, PGS.TS Đinh Quang Hải cho biết.
PGS.TS Đinh Quang Hải cũng cho rằng, nếu huyền thoại là phần cốt lõi thì nghi lễ chính là cách để ký ức được duy trì trong đời sống. Ở Bình Đà, các nghi lễ không chỉ là hình thức, mà là một hệ thống biểu tượng. Nghi thức làm bánh thánh là một ví dụ, công việc này không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà còn yêu cầu một trạng thái tinh thần đặc biệt. Người được chọn phải giữ mình thanh tịnh, ăn chay, kiêng kỵ nhiều điều.
Không gian làm bánh cũng được tách biệt, khi các nguyên liệu được đưa vào, cửa đóng kín. Chỉ có người làm bánh và người kế tục được ở lại bên trong. Mọi thao tác diễn ra trong im lặng, trong sự tập trung cao độ. Mỗi chiếc bánh được tạo ra không chỉ bằng đôi tay, mà còn bằng niềm tin và sự tuân thủ những quy tắc truyền thống.
Điều đặc biệt, ngay cả những người có vai trò quan trọng trong lễ hội cũng không được nhìn thấy hình dạng chiếc bánh. Sự “ẩn giấu” ấy không phải là ngẫu nhiên, mà tạo ra một khoảng cách cần thiết giữa con người và thần thánh, khiến nghi lễ giữ được tính linh thiêng vốn có.
Khi chiếc bánh được rước ra giếng Ngọc, mọi ánh nhìn đều hướng theo. Nhưng rồi, chỉ trong một khoảnh khắc, chiếc bánh biến mất dưới làn nước. Không có sự xác nhận, không có bằng chứng, chỉ còn lại niềm tin chiếc bánh ấy đã đến nơi cần đến.
Bên cạnh đó, lễ tế bò với những quy định chặt chẽ từ việc chọn nuôi đến hiến tế đã phản ánh văn hóa cổ xưa, nơi sự hi sinh được coi là cách để cầu phúc cho cộng đồng. Con bò không chỉ là lễ vật, mà là biểu tượng của sức mạnh, của sự sung túc, của mối quan hệ giữa con người và thần linh.
Hình ảnh rước sắc từ đền ra đình rồi trở lại không chỉ là một cuộc di chuyển, mà là sự tái hiện mối quan hệ giữa các thế hệ, giữa cha và con. Trong đó, Linh Lang Đại Vương hiện lên như biểu tượng của sự tiếp nối, thế hệ sau nhận lấy trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ những gì đã được khai mở.
Hằng năm, vào dịp lễ hội Bình Đà (mùng 6/3 âm lịch), đoàn thủ từ Khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ) đều về dâng hương Đức Quốc tổ Lạc Long Quân, xin rước chân nhang ở hương án Đệ Nhất đền Nội Bình Đà về thờ tại Đền Hùng. Đây là hoạt động truyền thống với ý nghĩa cung kính đón Đức Quốc tổ về dự hội Đền Hùng vào ngày 10/3.
Trần Hòa
2 giờ trước
58 phút trước
2 giờ trước
Vừa xong
4 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
20 phút trước
25 phút trước
30 phút trước
36 phút trước
36 phút trước
39 phút trước