Xứ Thanh - Đất học (Bài 2): Chuyện kể nhà khoa bảng

Lăng mộ cụ Nghè Tống - Tống Duy Tân trên quê hương Biện Thượng.
Nhà khoa bảng xứ Thanh “khai dựng” quốc sử
Đó là Bảng nhãn Lê Văn Hưu - nhà khoa bảng trên quê hương Kẻ Rị (còn có tên là Phủ Lý, nay thuộc xã Thiệu Trung). Lê Văn Hưu là hậu sinh của Trấn quốc Bộc xạ Lê Lương, người từng có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Cha mất sớm, Lê Văn Hưu được mẹ nuôi dưỡng và ông ngoại - một người hay chữ, tinh thông phong thủy, địa lý dạy dỗ nghiêm cẩn. Tư chất thông minh, lại chăm chỉ đèn sách, tài học của Lê Văn Hưu sớm nổi tiếng khắp vùng.
Năm Đinh Mùi 1247, đời vua Trần Thái Tông triều đình mở khoa thi Thái học sinh - khoa thi đầu tiên đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám hoa). Bấy giờ, Lê Văn Hưu mới 18 tuổi, đỗ Bảng nhãn. Lê Văn Hưu được vua Trần tin tưởng giao việc dạy dỗ các Hoàng tử. Nhờ sự chỉ dạy của thầy Hưu, các Hoàng tử tiến bộ rất nhanh, trở thành người có học thức uyên thâm. Trong đó, Trần Hoảng kế vị ngôi báu, tức Trần Thánh Tông; Chiêu Minh vương Trần Quang Khải về sau giữ chức Thái sư; Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật trở thành nhà ngoại giao tài năng.
Lê Văn Hưu kinh qua nhiều vị trí. Từ Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu, rồi Kiểm pháp quan, về sau thăng lên Thượng thư Bộ Binh. Đặc biệt, trong thời gian giữ chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu, ông được giao nhiệm vụ biên soạn quốc sử. Năm 1272, ông dâng lên vua Trần Thánh Tông bộ Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của nước ta với 30 quyển ghi chép lịch sử đất nước từ thời Triệu vũ Đế (tức Triệu Đà) cho đến Lý Chiêu Hoàng. Với việc biên soạn thành công bộ quốc sử đầu tiên, Lê Văn Hưu được các sử quan đời sau ngưỡng mộ, đánh giá là bậc “Đại thủ bút đời Trần”, Ngô Sĩ Liên gọi ông là “người viết sử giỏi”. Cũng bởi có công biên soạn quốc sử, Bảng nhãn Lê Văn Hưu được nhà vua phong tặng tước Nhân Uyên hầu.
Từ Đại Việt sử ký, các triều đại về sau đã tiếp tục biên soạn, bổ sung và tiếp nối. Tuy nhiên, Lê Văn Hưu vẫn được hậu thế nhắc nhớ với vai trò là người “khai dựng” quốc sử.
Người thầy mẫu mực và những âu lo thời cuộc
Là người đất Hội Triều huyện Hoằng Hóa cũ, nay thuộc xã Hoằng Châu, khoa thi Kỷ Mùi năm 1499 đời vua Lê Hiến Tông, Lương Đắc Bằng thi đỗ Bảng nhãn.
Trước đó, trong kỳ thi Hội, Lương Đắc Bằng đỗ đầu. Đến kỳ thi Đình, ông xếp thứ hai của Tam khôi, tức Bảng nhãn. Tuy nhiên, “ông lại nổi tiếng với bài ký “Ngũ vương tương” do vua Lê Hiến Tông ra đầu đề cho các Tiến sĩ tân khoa múa bút trổ tài ở hành điện, bài của Lương Đắc Bằng được xếp thứ nhất” (sách Văn tài võ lược xứ Thanh).
Với thiên tư xuất chúng và văn tài lỗi lạc, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng được vua Hiến Tông quý trọng. Tuy nhiên, vua Lê Hiến Tông qua đời sớm. Người con trai là vua Lê Túc Tông cũng ở ngôi thời gian ngắn ngủi thì mất. Tiếp nối cơ nghiệp nhà Lê là Lê Uy Mục - Lê Tương Dực đều là những kẻ bạo ngược, thích chém giết, ham mê tửu sắc khiến triều chính rối ren, lòng người chán ngán.
Âu lo việc đất nước, lo cho cơ nghiệp các đời vua trước gây dựng sẽ bị hủy hoại, mong muốn cứu lấy cơ nghiệp nhà Lê, Lương Đắc Bằng đã không sợ hãi mà dâng lên vua Lê Tương Dực 14 kế trị bình, như: Trừ bỏ gian nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc; Khen thưởng người tiết nghĩa để trọng đạo cương thường; Cấm ăn của đút để trị thói tham ô; Giảm nhẹ việc lao dịch để khoan sức dân... Tuy nhiên, những tâm huyết của ông lại không được vua Lê Tương Dực lắng nghe. Đau lòng song lực bất tòng tâm, ông xin cáo quan về quê, lấy việc dạy học làm lẽ sống.
Mến mộ học vấn của thầy Lương Đắc Bằng, học trò khắp mọi nơi tìm về đất Hội Triều theo học ông mỗi ngày thêm đông. Cùng với việc dạy tri thức, thầy Lương Đắc Bằng còn chú trọng răn dạy học trò đạo đức làm người. Trong số học trò của ông, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là người xuất chúng.
Một trong những tâm niệm, cũng là lời dạy của thầy giáo Lương Đắc Bằng với học trò đến nay còn được hậu thế nhắc nhớ, rằng: “Kẻ ra làm quan thì luôn nhớ thanh, thận, cần; người về ẩn dạy học thì luôn nhớ an bần, lạc đạo”.
Làm quan thanh liêm, làm thầy mẫu mực, tài sản vị Bảng nhãn đất Hội Triều để lại cho vợ con chỉ là dăm gian nhà lợp mái kè, nhưng di sản vô giá ông để lại cho đời chính là tấm lòng trinh bạch, một nhân cách sống cao đẹp. Đến hôm nay, danh thơm ấy còn mãi lưu.
Cụ Nghè Tống và phong trào Cần vương chống thực dân xâm lược
Sống vào thế kỷ XIX, Tống Duy Tân người làng Bồng Trung nay thuộc xã Biện Thượng thi đỗ Tiến sĩ khoa thi Ất Hợi dưới triều vua Tự Đức. Sau khi đỗ đại khoa, ông làm việc tại Hàn lâm viện ở kinh đô Huế, tiếp đó được thăng bổ làm Tri phủ Vĩnh Tường.
Bấy giờ, thực dân Pháp đang từng bước thôn tính nước ta, chúng ép vua nhà Nguyễn ký những bản Hòa ước đòi được công nhận quyền bảo hộ. Trong triều đình nhà Nguyễn khi đó chia thành hai phe: chủ chiến và chủ hòa. Phe chủ chiến do Điện tiền Thượng tướng quân Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đứng đầu.
Cả cuộc đời phấn đấu dùi mài kinh sử để thi đỗ, làm quan. Song chứng kiến triều đình yếu đuối, Tiến sĩ Tống Duy Tân không khỏi đau lòng. Không muốn nhìn thấy những điều nhiễu nhương, ông cáo quan về quê, bí mật chuẩn bị lực lượng để chờ ngày đánh thực dân Pháp. Ông được quan đại thần Tôn Thất Thuyết đặc cách giao giữ chức Chánh sứ Sơn phòng Thanh Hóa.
Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, quan đại thần Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi đến căn cứ Tân Sở. Tại đây, nhà vua đã ban chiếu Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và Nhân dân cả nước cùng hợp sức đánh đuổi thực dân Pháp.
Trên đất Thanh Hóa, nhận được chiếu Cần Vương, Chánh sứ Sơn phòng Tống Duy Tân đã cùng con trai và các văn thân, sĩ phu tích cực chuẩn bị lực lượng. Núi Hùng Lĩnh và các làng xung quanh như Bồng Trung, Bồng Thượng, Bồng Hạ, Đa Bút trở thành căn cứ dựng cờ khởi nghĩa. Để tăng sức mạnh của cuộc khởi nghĩa, Tống Duy Tân còn bắt mối với lãnh đạo khởi nghĩa ở các vùng khác như Hà Văn Mao, Cao Điển, Cầm Bá Thước, Hoàng Bật Đạt...
Sau nhiều năm vượt gian khó, chiến đấu anh dũng ở nhiều vùng miền, năm 1892, do bị chỉ điểm, thủ lĩnh Tống Duy Tân bị thực dân Pháp bắt. Kẻ địch khép ông vào án tử. Tương truyền, trước khi bị hành hình, cụ Nghè Tống Duy Tân vẫn hiên ngang đọc hai câu thơ, đại ý: “Nợ sống cuộc đời nay ta trả/ Bất tử danh thơm đời mãi truyền”.
Trong lòng mỗi người dân yêu nước, tự tôn dân tộc, thủ lĩnh Tống Duy Tân mãi là nhà khoa bảng kiên trung, anh dũng, một nhân cách đáng quý trong thiên hạ. Ông mất đi nhưng tấm lòng với đất nước, Nhân dân còn “ở lại”. Nhắc đến ông, hậu thế nhớ đến một nhà khoa bảng - một “cụ Nghè Tống” đầy khí phách của quê hương Thanh Hóa.
Lê Văn Hưu, Lương Đắc Bằng, Tống Duy Tân chỉ là ba trong số hơn 200 người đỗ đại khoa của quê hương Thanh Hóa. Họ sống vào những giai đoạn lịch sử khác nhau, cuộc đời, sự nghiệp làm quan cũng không giống nhau. Nhưng họ đã sống - sống một cuộc đời tận hiến, giản dị mà ý nghĩa. Bằng tài năng, cống hiến và nhân cách mẫu mực, những nhà khoa bảng xứ Thanh đã để lại danh thơm cho đời.
Bài và ảnh: Thu Trang
3 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
7 phút trước
7 phút trước
9 phút trước
24 phút trước
32 phút trước
36 phút trước
36 phút trước
38 phút trước
47 phút trước
51 phút trước