Nợ công 40.000 tỷ USD, giá cả leo thang: Người Mỹ được gì dưới thời ông Trump?

Tỷ lệ ủng hộ ông Trump lao dốc ngay trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ quan trọng. Ảnh: PBS.
Tỷ lệ ủng hộ lao dốc giữa sức ép giá cả
Khảo sát Reuters/Ipsos công bố ngày 19/10 cho thấy chỉ 31% người Mỹ tán thành hiệu quả công việc của Tổng thống Donald Trump, mức thấp nhất trong hai nhiệm kỳ của ông. Trong khi đó, 68% không tán thành cách ông điều hành nền kinh tế.
78% người Mỹ cho rằng các chính sách của Tổng thống Donald Trump ít nhất phải chịu một phần trách nhiệm đối với tình trạng giá cả tăng nhanh hơn thu nhập. Đáng chú ý, tỷ lệ này lên tới 64% trong nhóm cử tri Cộng hòa. Điều đó cho thấy sự bất mãn không chỉ đến từ phe đối lập, mà còn xuất hiện trong chính bộ phận cử tri từng ủng hộ ông Trump.
Kết quả xuất hiện trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ, trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng mạnh, chi phí sinh hoạt gây sức ép lên các hộ gia đình và nợ liên bang vượt mốc 40.000 tỷ USD.
Kinh tế từng là một trong những vấn đề giúp ông Trump giành được sự ủng hộ của cử tri năm 2024. Ông cam kết kiềm chế lạm phát, giảm chi phí sinh hoạt, thúc đẩy sản xuất trong nước và giúp người Mỹ có thêm tiền trong túi. Tuy nhiên, các số liệu gần đây cho thấy nhiều người vẫn chưa cảm nhận được sự cải thiện rõ rệt trong đời sống.
Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS), chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2026 tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Giá xăng tăng 34,2%, trong khi thu nhập bình quân theo giờ sau khi điều chỉnh lạm phát giảm 0,7%.
Khảo sát Reuters/Ipsos ngày 9/10 cho thấy 78% người được hỏi cho rằng các chính sách của ông Trump ít nhất phải chịu một phần trách nhiệm đối với chi phí sinh hoạt tăng cao. Tỷ lệ này bao gồm cả 64% cử tri Cộng hòa.
Những con số trên không chứng minh mọi khó khăn kinh tế đều xuất phát từ Nhà Trắng. Giá năng lượng còn chịu tác động của tình hình địa chính trị, trong khi lạm phát và nợ công là những vấn đề tích lũy qua nhiều đời chính quyền. Tuy nhiên, chúng cho thấy thách thức chính trị đối với ông Trump: cử tri không chỉ quan tâm nền kinh tế tăng trưởng ra sao, mà còn muốn biết tiền lương có đủ trang trải cuộc sống hay không.
Nợ công vượt 40.000 tỷ USD, ngân sách tiếp tục thâm hụt
Theo Ủy ban Kinh tế chung của Quốc hội Mỹ, tổng nợ liên bang đạt khoảng 40.250 tỷ USD tính đến ngày 5/10/2026, tăng khoảng 2.390 tỷ USD so với một năm trước.
Trong năm tài khóa 2026, kết thúc ngày 30/9, thâm hụt ngân sách liên bang lên gần 1.990 tỷ USD, tăng khoảng 217 tỷ USD so với năm trước, theo số liệu Bộ Tài chính Mỹ được Reuters dẫn lại. Tổng thu ngân sách đạt khoảng 5.400 tỷ USD, trong khi chi tiêu lên tới 7.400 tỷ USD.
Đáng chú ý, chi phí trả lãi nợ liên bang đạt khoảng 1.360 tỷ USD, tăng 12% so với năm tài khóa trước. Điều đó có nghĩa một phần ngày càng lớn nguồn lực ngân sách phải dành để trả lãi cho những khoản vay trước đây, thay vì phục vụ các ưu tiên khác.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) dự báo nợ liên bang do công chúng nắm giữ có thể tăng từ khoảng 101% GDP năm 2026 lên 120% GDP vào năm 2036. Đây là dự báo dài hạn, không phải con số nợ đã phát sinh.
Không thể quy toàn bộ nợ công cho một tổng thống duy nhất. Đây là vấn đề tích lũy qua nhiều thập kỷ, chịu tác động của các chương trình chi tiêu, quốc phòng, chính sách thuế, những đợt hỗ trợ kinh tế và nguồn thu ngân sách không đủ bù đắp chi phí.
Tuy nhiên, quyết định ngân sách của chính quyền đương nhiệm vẫn ảnh hưởng đến triển vọng tài khóa. Theo các ước tính được công bố về gói luật thuế và ngân sách mà ông Trump thúc đẩy, chính sách này có thể làm tăng nợ liên bang thêm hàng nghìn tỷ USD trong dài hạn.
Những người ủng hộ giảm thuế cho rằng chính sách sẽ kích thích đầu tư, sản xuất và tăng trưởng. Ngược lại, các nhà phân tích tài khóa cảnh báo nếu nguồn thu bị giảm mà không được bù đắp, thâm hụt và nợ công có thể tiếp tục tăng.
Nợ công lớn còn có thể làm tăng sức ép lên lãi suất vay mua nhà, mua xe và vốn kinh doanh, đồng thời thu hẹp dư địa ngân sách để ứng phó với khủng hoảng trong tương lai.

Giá dầu diesel hiện hành được hiển thị tại một trạm xăng ở Encinitas, California, Mỹ, ngày 21/10. Ảnh: Reuters.
Giá cả tăng, tiền lương chưa theo kịp
Nợ công là vấn đề dài hạn, còn giá cả sinh hoạt tác động trực tiếp đến người dân mỗi ngày.
Theo BLS, CPI tháng 9/2026 tăng 0,6% so với tháng trước và 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Giá năng lượng tăng 20,4% trong 12 tháng, trong đó giá xăng tăng 34,2%. Giá thực phẩm tăng 2,5%, còn giá các bữa ăn tại nhà hàng tăng 3,5%.
Reuters dẫn số liệu khảo sát ngày 9/10 cho biết giá xăng trung bình tại Mỹ lên 4,36 USD/gallon (29.765 đồng/lít), so với 3,11 USD/gallon (21.233 đồng/lít) cùng kỳ năm trước. Giá dầu diesel cũng tăng lên 6,28 USD/gallon (42.871 đồng/lít), gây sức ép lớn đối với ngành vận tải và các doanh nghiệp phụ thuộc vào vận chuyển hàng hóa.
Cuộc chiến với Iran và biến động thị trường năng lượng là những yếu tố góp phần đẩy giá nhiên liệu lên cao. Trong khi đó, thuế quan của chính quyền ông Trump làm dấy lên tranh luận về chi phí hàng hóa. Thuế nhập khẩu có thể bảo vệ một số nhà sản xuất trong nước, nhưng cũng làm tăng chi phí của hàng nhập khẩu và nguyên liệu đầu vào. Mức độ ảnh hưởng đến người tiêu dùng phụ thuộc vào từng ngành và khả năng doanh nghiệp chuyển chi phí sang giá bán.
Tiền lương danh nghĩa vẫn tăng nhưng sức mua chịu sức ép. Theo BLS, thu nhập bình quân theo giờ của người lao động khu vực tư nhân đạt 37,81 USD trong tháng 9/2026, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, sau khi điều chỉnh lạm phát, thu nhập bình quân theo giờ giảm 0,7%.
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,2% trong tháng 9, nhưng nền kinh tế chỉ tạo thêm 29.000 việc làm, theo số liệu sơ bộ của BLS. Điều này chưa cho thấy thị trường lao động rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, song tốc độ tạo việc làm chậm lại có thể khiến triển vọng thu nhập của một bộ phận người lao động kém chắc chắn hơn.
Khảo sát Reuters/Ipsos cho thấy 63% người được hỏi ăn ngoài ít thường xuyên hơn, trong khi 56% giảm chi tiêu cho giải trí hoặc dịch vụ phát trực tuyến. Đây là dấu hiệu cho thấy nhiều hộ gia đình đang điều chỉnh thói quen tiêu dùng để thích nghi với chi phí tăng cao.
Với người dân, vấn đề không chỉ là lạm phát tăng hay giảm, mà là mặt bằng giá đã lên cao đến đâu và thu nhập có đủ để trang trải những khoản chi thiết yếu hay không.

Một gia đình Mỹ có thể kiếm được nhiều tiền hơn năm trước nhưng vẫn cảm thấy khó khăn nếu những khoản chi bắt buộc tăng nhanh. Ảnh: Getty.
Cử tri cũng lo ngại về chi phí sinh hoạt
Áp lực kinh tế được phản ánh trong những câu chuyện của cử tri Mỹ. Reuters dẫn lời Jeffrey Talley, 65 tuổi, một cựu nhân viên ngân hàng sống tại bang Kansas. Ông từng bỏ phiếu cho ông Trump năm 2016 nhưng không ủng hộ ông trong các cuộc bầu cử năm 2020 và 2024.
Talley cho biết ông thất vọng trước cuộc chiến với Iran và tác động của nó đến giá nhiên liệu. Ông muốn cuộc bầu cử trở thành cơ hội lựa chọn những người có thể tạo ra cơ chế kiểm soát và cân bằng đối với chính quyền.
Một trường hợp khác là Pedro Sanchez, 52 tuổi, sống tại bang California và từng bỏ phiếu cho ông Trump. Chia sẻ với hãng tin AP, Sanchez cho biết các chi phí tăng lên đã bào mòn số tiền còn lại sau khi thanh toán những khoản thiết yếu.
“Tôi từng có nhiều tiền hơn để chi tiêu tùy ý. Giờ thì không còn nữa. Số tiền đó đã bị bào mòn bởi tất cả những khoản chi phí tăng lên”, ông nói.
Đây là những trường hợp cá nhân, không đại diện cho toàn bộ cử tri Mỹ. Tuy nhiên, chúng phản ánh một vấn đề mà các chỉ số kinh tế tổng thể khó thể hiện đầy đủ: ngay cả khi người dân vẫn có việc làm, họ có thể cảm thấy cuộc sống khó khăn hơn nếu phần lớn thu nhập phải dành cho tiền nhà, thực phẩm, nhiên liệu và bảo hiểm.
Khảo sát AP-NORC cũng cho thấy chỉ 17% người trưởng thành được hỏi tán thành cách ông Trump xử lý chi phí sinh hoạt, trong khi 26% tán thành cách ông điều hành nền kinh tế nói chung.
Những kết quả này cho thấy giá cả đang trở thành một phép thử quan trọng đối với lời hứa kinh tế của ông Trump. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào một vài khảo sát để kết luận mọi cử tri đã thay đổi quan điểm hoặc một chính sách cụ thể là nguyên nhân duy nhất dẫn đến sự bất mãn.
Chính sách của ông Trump: Ai được lợi, ai chịu tác động?
Chính quyền ông Trump cho rằng các chính sách giảm thuế, khuyến khích đầu tư và thúc đẩy sản xuất trong nước sẽ mang lại lợi ích cho người dân Mỹ. Nhà Trắng cũng nhấn mạnh những biện pháp nhằm giảm chi phí thuốc kê đơn và cải thiện triển vọng kinh tế.
Những người ủng hộ thuế quan cho rằng biện pháp này có thể bảo vệ việc làm trong nước, giảm phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài và khuyến khích doanh nghiệp chuyển hoạt động sản xuất về Mỹ.
Tuy nhiên, lợi ích không nhất thiết được phân bổ đồng đều. Doanh nghiệp sản xuất trong nước có thể hưởng lợi khi đối thủ nước ngoài phải chịu thuế nhập khẩu cao hơn. Nhưng các công ty Mỹ sử dụng linh kiện, nguyên liệu hoặc máy móc nhập khẩu cũng có thể phải trả chi phí cao hơn. Nếu chuyển phần chi phí tăng thêm sang người mua, người tiêu dùng sẽ chịu tác động trực tiếp.
Tương tự, giảm thuế có thể giúp một số hộ gia đình tăng thu nhập sau thuế, nhưng lợi ích thực tế phụ thuộc vào mức giảm, thu nhập và những khoản chi khác. Nếu nguồn thu ngân sách giảm mà không được bù đắp, thâm hụt và nợ công có thể tăng.
Vì vậy, đánh giá chính sách không thể chỉ dựa vào số tiền được giảm thuế hoặc số việc làm được công bố. Cần xem xét cả tiền lương thực tế, giá hàng hóa, việc làm, nguồn thu ngân sách và các khoản chi công.
Một số người dân có thể được hưởng lợi từ giảm thuế hoặc những chính sách cụ thể, trong khi những người khác phải đối mặt với chi phí cao hơn. Tác động ròng chỉ có thể được xác định bằng cách đối chiếu dữ liệu trước và sau khi chính sách có hiệu lực, đồng thời tính đến các yếu tố kinh tế bên ngoài.

Tổng thống Mỹ Donald Trump trao tặng Huân chương Khoa học Quốc gia cho Elon Musk trong Hội nghị Thượng đỉnh "Thời kỳ Vàng son của Đổi mới Sáng tạo Mỹ" tại Viện Hòa bình ở Washington, DC. Ảnh: AFP.
Tỷ phú chi hàng trăm triệu USD hậu thuẫn ông Trump
Bên cạnh câu chuyện túi tiền của người dân, dòng tiền từ giới siêu giàu cũng là một khía cạnh đáng chú ý của chính trường Mỹ.
Tỷ phú công nghệ Elon Musk là một trong những nhà tài trợ chính trị lớn nhất trong chu kỳ bầu cử năm 2024. Theo phân tích hồ sơ tài chính tranh cử của The Washington Post, ông Musk đã chi ít nhất 277 triệu USD để hậu thuẫn ông Trump và các ứng viên Cộng hòa khác trong năm đó.
OpenSecrets ghi nhận tổng đóng góp chính trị của ông Musk trong chu kỳ bầu cử vượt 291 triệu USD. Những khoản tiền này không chỉ được chuyển trực tiếp cho chiến dịch tranh cử của ông Trump, mà còn thông qua các tổ chức và ủy ban chính trị hỗ trợ ứng viên Cộng hòa.
Tỷ phú Timothy Mellon và bà Miriam Adelson cũng nằm trong nhóm những nhà tài trợ lớn cho các hoạt động chính trị ủng hộ phe Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2024.
Cần phân biệt tiền tài trợ tranh cử với tiền ngân sách. Các khoản đóng góp chính trị được sử dụng cho chiến dịch, quảng cáo và những hoạt động vận động theo quy định; chúng không phải tiền thuế mà chính phủ chi để thực hiện chính sách.
Việc một doanh nhân đóng góp số tiền lớn cũng không tự động chứng minh rằng người đó đã mua được một quyết định chính sách hoặc ông Trump dùng tiền để mua phiếu cử tri. Muốn xác lập mối liên hệ như vậy, cần có bằng chứng cụ thể về sự trao đổi lợi ích hoặc tác động trực tiếp đến quyết định công.
Dù vậy, quy mô tài trợ của giới siêu giàu đặt ra câu hỏi về vai trò của tiền bạc trong chính trường Mỹ. Những người có nguồn lực tài chính lớn có thể giúp định hình chương trình nghị sự, quảng bá thông điệp và đưa ứng viên tiếp cận cử tri ở quy mô mà các nhà tài trợ nhỏ khó có thể đạt được.

Một khách hàng đi ngang qua quầy trưng bày trứng tại siêu thị Monterey Park, California. Niềm tin của người tiêu dùng Mỹ trong tháng 4 năm nay đã giảm mạnh nhất kể từ khi đại dịch bùng phát. Ảnh: AFP.
Người Mỹ được gì dưới thời ông Trump?
Các số liệu cho thấy bức tranh kinh tế Mỹ có cả điểm tích cực lẫn những dấu hiệu đáng lo ngại. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,2%, tiền lương danh nghĩa tiếp tục tăng và nền kinh tế chưa rơi vào khủng hoảng toàn diện. Tuy nhiên, lạm phát tăng lên 3,7% trong 12 tháng tính đến tháng 9/2026, giá xăng tăng hơn 34%, thu nhập thực tế giảm và thâm hụt ngân sách tiến sát 2.000 tỷ USD.
Trong khảo sát Reuters/Ipsos công bố ngày 19/10, chỉ 31% người Mỹ tán thành hiệu quả công việc của ông Trump. Khi được hỏi đảng nào có khả năng quản lý kinh tế tốt hơn, 40% nghiêng về đảng Dân chủ, so với 33% dành cho đảng Cộng hòa.
Những con số này không thể tự chúng chứng minh một chính sách cụ thể đã thất bại. Nhưng chúng cho thấy khoảng cách giữa thông điệp chính trị và cảm nhận của người dân đang trở thành thách thức đối với Nhà Trắng.
Để trả lời người Mỹ được gì dưới thời ông Trump, cần xem xét ai được giảm thuế, ai phải trả nhiều tiền hơn cho hàng hóa, thu nhập thực tế thay đổi ra sao, cơ hội việc làm có cải thiện không và ngân sách phải dành bao nhiêu nguồn lực để trả lãi nợ.
Với nhiều hộ gia đình, phép thử đơn giản nhất vẫn là số tiền còn lại sau khi trả tiền nhà, mua thực phẩm, đổ xăng và thanh toán các hóa đơn thiết yếu. Nếu thu nhập không theo kịp chi phí, những thành tích kinh tế ở cấp độ vĩ mô khó có thể chuyển thành cảm giác khá giả trong đời sống hằng ngày.
Chính khoảng cách giữa những gì được hứa hẹn và những gì người dân thực sự cảm nhận được sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố quan trọng định hình đánh giá của cử tri về ông Trump.
Huyền Chi
2 giờ trước
2 giờ trước
1 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
32 phút trước
34 phút trước
38 phút trước
39 phút trước
39 phút trước
57 phút trước
57 phút trước
1 giờ trước