NIM ngân hàng phục hồi, Chứng khoán Yuanta chỉ ra nhóm có lợi thế về chi phí vốn

Ảnh minh họa
Theo báo cáo ngành ngân hàng nửa cuối năm 2026 do Chứng khoán Yuanta Việt Nam công bố ngày 24/8, biên lãi ròng (NIM) của 27 ngân hàng trong quý 2/2026 đạt 3,15%, cải thiện 0,16 điểm % so với quý trước nhưng vẫn thấp hơn 0,1 điểm % so với cùng kỳ năm 2025.
Theo Yuanta, sự cải thiện của NIM chủ yếu đến từ việc tái định giá các khoản cho vay và thay đổi cơ cấu kỳ hạn tín dụng, thay vì chi phí vốn đi xuống. Trong quý 2, lợi suất tài sản toàn ngành đạt 7,7%, cao hơn 0,92 điểm % so với cùng kỳ năm trước. Chi phí vốn (COF) ở mức 4,79%, cao hơn 1,05 điểm %. Việc chi phí vốn đi lên nhanh hơn lợi suất tài sản khiến NIM vẫn thấp hơn cùng kỳ.

Một yếu tố hỗ trợ NIM được Yuanta đề cập là sự gia tăng tỷ trọng cho vay dài hạn. Trong quý 2/2026, dư nợ dài hạn chiếm 33,1% tổng danh mục cho vay, so với 30,4% cùng kỳ năm trước và mức đáy 29,6% tại quý 2/2024. Tỷ trọng này đang dần trở lại vùng 34-35% từng ghi nhận trong giai đoạn 2019 - 2022.
Xét từng ngân hàng, Techcombank và VIB có tỷ trọng cho vay dài hạn khoảng 45%, tiếp đến là OCB với 44%, TPBank 42% và SHB 41%. So với cùng kỳ, MSB ghi nhận tỷ trọng này tăng 7 điểm % lên 36%; Vietcombank tăng 6 điểm % lên 38%; HDBank tăng 6 điểm % lên 22% và SeABank tăng 6 điểm % lên 21%. VPBank, Nam A Bank và ACB cũng ghi nhận mức tăng khoảng 4-5 điểm %.
Cùng với cơ cấu kỳ hạn cho vay, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tiếp tục là yếu tố ảnh hưởng đến chi phí vốn và khả năng duy trì NIM. Theo số liệu Yuanta tổng hợp, CASA toàn ngành trong quý 2 giảm 1,21 điểm % so với cùng kỳ năm trước, xuống 20,9%. VIB ghi nhận mức giảm lớn nhất với 4,87%, tiếp đến là MSB giảm 3,68%, MB giảm 3,29% và Vietcombank giảm 3,04%.
Dù CASA đi xuống, Techcombank, MB và Vietcombank vẫn là ba ngân hàng lớn duy trì tỷ lệ trên 30%, lần lượt đạt 35%, 34,6% và 33,9%. Cả ba đồng thời duy trì được NIM so với quý trước trong quý 2/2026.
Theo Yuanta, sự khác biệt giữa các ngân hàng hiện không chỉ nằm ở quy mô CASA mà còn ở khả năng duy trì ổn định nguồn tiền gửi có chi phí thấp này. Những ngân hàng có nền CASA lớn và ổn định sẽ có nhiều lợi thế hơn trong kiểm soát chi phí vốn, qua đó hỗ trợ NIM.

Yuanta cũng đề cập việc tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%. Thay đổi này giúp giảm áp lực lên bảng cân đối, đồng thời tạo thêm dư địa cho tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ NIM.
Tuy nhiên, công ty chứng khoán cho rằng đây chủ yếu là yếu tố hỗ trợ trong ngắn hạn. Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng vẫn duy trì mục tiêu dài hạn là hạn chế rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong hệ thống, do đó tỷ lệ trên có thể được đưa trở lại 30% khi điều kiện thị trường cho phép.
Vì vậy, Yuanta đánh giá các ngân hàng có lợi thế CASA như MB, Vietcombank và Techcombank vẫn ở vị thế thuận lợi hơn về chi phí vốn và NIM trong thời gian tới.
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động
Bên cạnh diễn biến của NIM, báo cáo Yuanta cho thấy khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động tiếp tục duy trì. Tính đến ngày 31/7, tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 9% so với đầu năm, thấp hơn mức 9,6% cùng kỳ năm trước.
Riêng 27 ngân hàng trong phạm vi theo dõi của Yuanta, tăng trưởng tín dụng, bao gồm cho vay khách hàng và trái phiếu doanh nghiệp, đạt 9,2% trong nửa đầu năm. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng tăng 6,7%. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng (LDR) theo đó lên 114% trong quý 2/2026, từ mức 108% cùng kỳ năm trước.
Xét từng ngân hàng, nhóm tham gia tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém có tốc độ mở rộng tín dụng cao hơn mặt bằng chung. VPBank ghi nhận mức tăng 23% so với đầu năm, HDBank đạt 20,6% và MB đạt 13,2%.
Ngược lại, tín dụng tại nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước tăng thấp hơn trung bình ngành. VietinBank và Vietcombank cùng ghi nhận mức 5%, còn BIDV đạt 5,4%. Sacombank có dư nợ cho vay tăng 1,5% trong bối cảnh ngân hàng tiếp tục tập trung xử lý bảng cân đối để tiến tới hoàn thành quá trình tái cơ cấu.
Đối với tín dụng bất động sản, Yuanta lưu ý chỉ 13 trong tổng số 28 ngân hàng thuyết minh chi tiết dư nợ cho vay theo ngành nghề trong báo cáo tài chính quý 2. Do đó, số liệu này chỉ phản ánh nhóm ngân hàng có công bố thông tin, không đại diện cho toàn ngành.
Trong nhóm trên, SHB có tỷ trọng dư nợ kinh doanh bất động sản cao nhất, tương đương 33,5% tổng cho vay khách hàng. Theo sau là BVBank với 30%, VPBank 25,5% và Techcombank 25,1%.

Ở khía cạnh chất lượng tài sản, Yuanta cho biết tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành trong quý 2 ở mức 2,01%, gần như không thay đổi so với mức 2% của quý đầu năm và thấp hơn nhẹ so với 2,05% cùng kỳ năm trước.
Trong khi tỷ lệ nợ xấu ít biến động, nợ nhóm 2 tăng 0,14 điểm % so với quý trước lên 1,38%, mức cao nhất kể từ quý 2/2025.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành đạt 78,9% trong quý 2, giảm 0,59% so với quý trước và 0,58% so với cùng kỳ năm trước.
Số liệu Yuanta tổng hợp cho thấy sự phân hóa giữa các ngân hàng khá rõ. Vietcombank có tỷ lệ nợ xấu 0,61% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu 182%; ACB lần lượt là 1,03% và 105%; Techcombank 1,08% và 126%; VietinBank 1,2% và 134%. Đây là bốn ngân hàng trong mẫu theo dõi duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%.
Ở nhóm còn lại, Sacombank có tỷ lệ nợ xấu 7,54% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu 57%; OCB lần lượt là 3,49% và 59%; VPBank 3,28% và 56%; Eximbank 3,08% và 32%; VIB 2,93% và 44%.
Một chỉ tiêu khác được Yuanta sử dụng để theo dõi chất lượng tài sản là tỷ lệ lãi dự thu trên tổng tài sản. Chỉ số này của toàn ngành đạt 1,04% trong quý 2, tăng 0,03% so với quý trước và 0,12% so với cùng kỳ, lên mức cao nhất kể từ quý 2/2024.
Tỷ lệ lãi dự thu trên tổng tài sản tại VietABank ở mức 5,36%, Bac A Bank 3,52%, MSB 2,82%, Nam A Bank 2,25%, BVBank 2,01%, SHB 1,93% và VietBank 1,89%. Trong khi đó, Vietcombank ghi nhận mức 0,43%, VietinBank 0,66%, Saigonbank 0,68%, Eximbank 0,7% và ACB 0,73%.
Theo Yuanta, MSB đã trải qua 7 quý liên tiếp ghi nhận tỷ lệ lãi dự thu trên tổng tài sản đi lên, đạt 2,82% trong quý 2 và cao hơn 0,79 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Nam A Bank có 4 quý liên tiếp gia tăng, cao hơn 0,97 điểm phần trăm so với cùng kỳ.
VietABank và Bac A Bank cùng ghi nhận hai quý liên tiếp đi lên, với tỷ lệ lần lượt cao hơn 1,09% và 0,71% so với cùng kỳ. Sacombank diễn biến theo chiều ngược lại khi tỷ lệ lãi dự thu trên tổng tài sản giảm từ 8,34% vào quý 1/2016 xuống 0,76% trong quý 2/2026.
Thu Trang
1 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
10 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
5 giờ trước
2 giờ trước