🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nhập siêu quay trở lại: Cơ hội và rủi ro.Bài 2: Hơn 90% nhập khẩu là tư liệu sản xuất: Tín hiệu tích cực và áp lực hiện hữu

3 giờ trước
Tính đến ngày 15/6, Việt Nam ghi nhận mức nhập siêu gần 17 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng máy móc, thiết bị và nguyên, nhiên vật liệu phục vụ tích lũy tư liệu sản xuất chiếm đến gần 94% kim ngạch. Diễn biến này một mặt mang đến những kỳ vọng lạc quan cho chu kỳ sản xuất mới, mặt khác lại đặt ra những áp lực hiện hữu và bài toán về nút thắt cấu trúc nội tại của nền kinh tế.

Việc nhập siêu trở lại sau nhiều năm xuất siêu liên tục đã bộc lộ rõ hơn những hạn chế mang tính cấu trúc. Ảnh minh họa

Phản ứng linh hoạt ngắn hạn và nghịch lý cấu trúc

Các chuyên gia kinh tế nhận định, xét trong ngắn hạn, việc phần lớn kim ngạch nhập khẩu tập trung vào nhóm hàng tư liệu sản xuất là phản ứng linh hoạt, hợp lý của doanh nghiệp. Nhằm phòng ngừa rủi ro từ các biện pháp thuế quan đối ứng tại các thị trường quốc tế, đồng thời chủ động đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới, các doanh nghiệp đã tăng tốc nhập khẩu đầu vào để tích lũy vật tư.

Tuy nhiên, việc nhập siêu trở lại sau nhiều năm xuất siêu liên tục đã bộc lộ rõ hơn những hạn chế mang tính cấu trúc. Nền sản xuất trong nước vẫn phụ thuộc vào nguồn máy móc, linh kiện và nguyên liệu ngoại nhập, đặc biệt ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Điều này cho thấy thương mại quốc tế của Việt Nam đang mở rộng nhanh về quy mô, nhưng khả năng tích lũy và giữ lại giá trị ròng để đóng góp cho tăng trưởng lại đang có xu hướng suy giảm tương đối.

Bên cạnh đó, sự lệch pha giữa các khối doanh nghiệp tiếp tục là một bài toán lớn: khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu lớn, trong khi khu vực FDI tiếp tục tạo ra xuất siêu. Chỉ tính riêng quý I/2026, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu tới 10,73 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu 7,09 tỷ USD. Sự bất cân đối này chứng minh năng lực công nghiệp hỗ trợ, mức độ nội địa hóa và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Hệ quả là khi sản xuất vừa mở rộng, ngay lập tức kim ngạch nhập khẩu đầu vào tăng tốc nhanh hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Áp lực từ mô hình gia công "bán phần" và rủi ro vĩ mô

Chia sẻ góc nhìn trên, theo phân tích của TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn (Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright), hiện tượng nhập siêu trong 5 tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng trưởng cao gắn liền với cường độ nhập khẩu cao. Điều này chứng tỏ nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu, nhất là trong các ngành then chốt như công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, máy móc, hóa chất, năng lượng và vật liệu.

Bên cạnh áp lực từ phía nhập khẩu đầu vào, sức cạnh tranh của khối doanh nghiệp trong nước vẫn còn yếu. Khảo sát của VCCI trong Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 đã chỉ ra một thực tế đáng quan ngại khi tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng tăng mạnh từ mức 45,3% lên 60,2%.

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn bóc tách, việc khu vực FDI thu hẹp mức xuất siêu cũng phản ánh hạn chế căn bản của mô hình công nghiệp hóa hướng xuất khẩu kiểu "bán phần" tại Việt Nam. Tức là nước ta vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào, thực hiện lắp ráp và gia công, thay vì dựa vào giá trị gia tăng trong nước và lợi thế cạnh tranh nội sinh. Xét từ cân đối tiết kiệm - đầu tư, nhập siêu là tín hiệu cho thấy tiết kiệm quốc gia không còn đủ tài trợ cho nhu cầu đầu tư tăng nhanh. Thực trạng này đang đẩy cán cân vãng lai trước nguy cơ chuyển sang thâm hụt trong năm 2026, từ đó tạo sức ép lên cán cân thanh toán, tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại hối và sự ổn định tài chính vĩ mô.

Theo TS. Lê Duy Bình (Giám đốc Economica Việt Nam), việc ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển như kỳ vọng khiến phần lớn giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu không được giữ lại trong nước; ngay cả các ngành chủ lực như dệt may, điện tử vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Nếu nhập siêu kéo dài sẽ làm giảm tăng trưởng GDP do xuất khẩu ròng bị âm, gây áp lực lên tỷ giá và làm giảm tính linh hoạt của chính sách tiền tệ, tài khóa. Đồng thời, nhập siêu kéo dài cũng cảnh báo năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa đang có xu hướng suy giảm.

Định vị lại mục tiêu: Lấy giá trị gia tăng làm thước đo

Để ứng phó với các thách thức hiện tại, một số chuyên gia kinh tế nhận định Việt Nam cần triển khai những thay đổi mang tính chiến lược và đồng bộ hơn.

Theo TS. Lê Duy Bình, nền kinh tế nên dịch chuyển trọng tâm từ mục tiêu tăng trưởng kim ngạch thuần túy (khoảng 15%/năm) sang tập trung vào giá trị gia tăng giữ lại trong nước và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các thiết bị đầu vào. Bên cạnh đó, việc chú trọng thị trường nội địa và phát triển năng lực sản xuất trong nước được xem là giải pháp để thay thế dần các phân khúc hàng hóa đang phụ thuộc vào nhập khẩu, chẳng hạn như ngành sản xuất ô tô nhằm giảm áp lực chi tiêu ngoại tệ. Thay đổi này cũng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa sản xuất với tiêu dùng, cân bằng giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường mối liên kết giữa các viện nghiên cứu và khối doanh nghiệp.

Ở góc độ điều hành vĩ mô, để thúc đẩy tăng trưởng cao mà vẫn giữ cán cân vãng lai trong giới hạn an toàn, chuyên gia Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng cần xử lý đồng thời cả hai phía của cân đối tiết kiệm - đầu tư và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thông qua 5 giải pháp cụ thể.

Trước hết, cần duy trì tỷ lệ đầu tư ở mức hợp lý khoảng 35% GDP (chỉ nên tăng lên khoảng 37% GDP nếu hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện rõ rệt thông qua giảm ICOR và nâng cao chất lượng đầu tư công).

Thứ hai, từng bước nâng tiết kiệm quốc gia trở lại mức khoảng 35-37% GDP để phù hợp với quy mô đầu tư và nhu cầu cân đối tiêu dùng nội địa.

Thứ ba, xử lý các nguyên nhân cơ cấu của nhập siêu bằng cách nâng cao sức cạnh tranh của khu vực kinh tế trong nước, nhất là kinh tế tư nhân.

Thứ tư, thúc đẩy nội địa hóa chuỗi cung ứng, phát triển các cấu phần thượng nguồn có giá trị gia tăng cao; đồng thời thu hút FDI theo hướng ưu tiên chất lượng liên kết, chuyển giao công nghệ và cam kết kéo doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.

Cuối cùng, cần củng cố các tấm đệm ổn định vĩ mô bằng cách duy trì dự trữ ngoại hối an toàn, điều hành tỷ giá linh hoạt, lãi suất phù hợp và phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ.

Hiện tượng nhập siêu trở lại và các tác động vĩ mô là vấn đề được Bộ trưởng Bộ Tài chính đặc biệt lưu ý. Tại cuộc làm việc với Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng ngày 30/6 vừa qua, Tư lệnh ngành Tài chính Ngô Văn Tuấn tiếp tục nhấn mạnh đây là một trong những áp lực có thể tác động trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Để làm rõ các giải pháp chiến lược liên quan đến hiện tượng nhập siêu, Báo Kiểm toán đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Như Quỳnh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) trong bài viết cuối của tuyến bài./.

THÙY ANH

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ