'Người câu cá trên sông Lợi Nông'

Sông Lợi Nông khắc trên Chương đỉnh, đặt trước sân Thế Miếu trong Hoàng thành Huế. Ảnh: Tư liệu
Song, chính những ngày tháng tai ương ấy đã tôi luyện bản lĩnh và nhân cách, góp phần hình thành tầm vóc nhà canh tân hàng đầu của nước ta cuối thế kỷ XIX…
“Nút thắt” cuộc đời
Sách Đại Nam Liệt truyện Chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn chép: “Tự Đức năm thứ 3 (1850), bấy giờ nhân mưa rét, thấy nhà vua nào bãi triều, nào nhà Kinh diên cũng ít ra ngự, Phú Thứ (tức Phạm Phú Thứ) dâng sớ can lược rằng: “Lễ đại định ít thấy ra triều thị, nhạc nội uyển kèn trống suốt cả đêm, nhà Kinh diên lâu không tới giảng, chốn triều đình lâu không ban hỏi, thần tử ở bốn phương phủ huyện cũng lâu không được thừa chỉ thanh vấn. Lại nói: Thái y phương thuốc điều hòa, thực cũng quá ư nghệ thuật, quần thần dâng sớ thỉnh an, vị tình khuất cả lời nói”.
Lời can gián khá thẳng thắn và bộc trực ấy khiến Phạm Phú Thứ lãnh đòn ngay lập tức của nhà vua trẻ. Ông bị cách chức, bị đày đi khổ sai ở trạm Thừa Nông(1), phía tây nam kinh thành Huế, để “răn về (tính) nóng bậy quá”.
Đây quả là “nút thắt” quan trọng trong cuộc đời làm quan của Phạm Phú Thứ, khi ông mới qua ngưỡng tuổi “tam thập nhi lập”. Trước đó, chỉ mới trong vòng 7 năm từ khi đỗ Tiến sĩ ra làm quan, qua hai triều vua, cụ Phạm đã lên đến hàng Chánh Ngũ phẩm, giữ chức Hàn lâm viện Thị độc ở Viện Tập hiền (nơi chuyên nghiên cứu, giảng dạy kinh điển, triết học cho nhà vua, các hoàng tử, hoàng thân và quan lại cấp cao trong triều đình).
“Người câu cá trên sông Lợi Nông”
Đến trạm Thừa Nông, Phạm Phú Thứ phải trong cảnh đày ải ngặt nghèo, bị canh gác khá chặt chẽ. Lúc này, xứ Huế mùa Đông mưa lạnh nhiều, công việc lại khá vất vả với một vị quan chuyên ngồi bàn giấy trong khi thể trạng của ông rất ốm yếu. Hằng ngày, để cắt đủ số cỏ cho ngựa ăn theo quy định không phải là điều dễ dàng.
Đêm Giao thừa Tết Tân Hợi (1851), Phạm Phú Thứ phải đi tuần trạm trong tình cảnh khá ảm đạm và cô đơn: “Một mình tuần trạm nhìn sao Đẩu/ Đêm khuya sáng chiếu khắp làng sông”(2). Rồi đến ngày giỗ đầu (tiểu tường) của cha, ở phương xa, ông chỉ biết khóc, nước mắt như chan hòa cả máu: “Vạn cổ ơn sâu không bờ bến/ “Lục Nga”, lệ máu đẫm toàn thiên”.
Thế nhưng, cụ Phạm không hề oán trách. Ông tự nhủ: “Khó khăn lòng vốn chẳng từ nan” và giữ niềm tin một ngày nào đó nhà vua sẽ thấu cho tấm lòng ngay thẳng của mình, như mây trắng trên đỉnh núi Ngự Bình, như mưa trên sông Lợi Nông (tức sông An Cựu, là con sông đầu tiên do triều Nguyễn khai đào ở Huế và Việt Nam) tất sẽ tạnh: “Non Bình mây gần gũi/ Sông Nông mưa tạnh thinh”.
Vượt lên nghiệt ngã của số phận, lúc rảnh rỗi Phạm Phú Thứ đọc sách và thường cùng với Tú tài Đoàn Kim, người làng Ưu Đàm, huyện Phong Điền câu cá trên sông Lợi Nông: “Sáng sớm vác cần ra câu cá/ Dập dờn sóng nhẹ thuyền câu êm”. Câu cá vừa để cải thiện bữa ăn, vừa khuây khỏa nỗi lòng. Theo các nhà nghiên cứu, biệt hiệu/biệt danh “Nông giang điếu đổ” (người câu cá trên sông Lợi Nông) gắn với ông từ đấy.
Dù ở nơi thôn dã ven sông vắng vẻ và ngay cả lúc nằm trên giường bệnh, cụ Phạm vẫn được các vị khoa bảng danh vọng, quan lại đương triều đến thăm và khích lệ tinh thần. Như Giải nguyên Đặng Huy Trứ, người sau này làm Bố chánh Quảng Nam. Như Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển, người lần đầu diện kiến với câu nói rất chân thành: “Tôi và anh tuy chưa gặp mặt nhưng vì cùng thanh khí nên đến thăm nhau vậy”. Hay Trần Đăng Tiến trước khi đi nhậm chức Tri huyện Hóa Đa cũng ghé thăm.
Ở Thừa Nông, Phạm Phú Thứ cảm tác được 29 bài thơ chữ Hán, tập hợp nên tập Nông giang thi lục, sau này được người đồng hương - Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ - đánh giá là “âm hưởng điều hòa, niêm luật tinh tế, thần thái tươi đẹp, ý vị tình cảm sâu xa”.
Đọc Nông giang thi lục, độc giả dễ dàng nhận ra nỗi nhớ niềm thương đất Quảng khá da diết: “Mưa trút thành mù mịt/ Giá lạnh ngựa đường trường/ Tráng tâm treo chuồng ngựa/ Dấu sóng thèm quê hương”. Ngày Đông chí, gặp tiết nắng trời đẹp ở đất lạ, Phạm Phú Thứ chẳng hề vui, mà ví mình như “Sào Nam chi điểu”: “Cành Nam tin ngóng nhớ cố hương”. Dịp Tết Nguyên đán Tân Hợi, khi thử bút đầu năm, ông chan chứa tình thương về quê cha đất tổ ở bên kia đèo Hải Vân: “Xuân giăng cửa khuyết Bình Lãnh bắc/ Quê hương trời mở Hải Vân nam”.
Đáng mừng là chỉ sau 4 tháng đày ải ở trạm Thừa Nông (từ tháng Mười năm Canh Tuất - 1850 đến tháng Giêng năm Tân Hợi - 1851), Phạm Phú Thứ được nhà vua ban dụ tha tội và cho khai phục hàm Điển bạ (Tòng bát phẩm). Giã biệt Thừa Nông về lại kinh thành, lòng cụ nặng tình về vùng đất mình từng gắn bó với “Vạn vũng cửa đồng đang trữ nước/ Nghìn nhà cây cỏ khói yên bình”.
Thật cảm động khi biết rằng, tiễn chân cụ Phạm cho đến hết ranh giới trạm Thừa Nông không chỉ có viên chức trạm Thừa Nông mà có cả các Hương lý, sai dịch người làng An Nông hơn mười người. Đó chính là sự cảm phục và tôn kính đối với một vị quan trẻ, một kẻ sĩ biết giữ lòng thanh thản trước thăng trầm của công danh, như “tùng xanh giữ vững lòng trinh bạch”.
-------------
(1): Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, trạm Thừa Nông là một trong 7 trạm dịch ở phủ Thừa Thiên, có nhiệm vụ lưu chuyển công văn phục vụ hoạt động quản lý của triều đình và địa phương. Trạm này ở huyện Phú Lộc, nằm về phía bắc Cầu Hai. Cụ Phạm Phú Thứ cho hay, trạm nằm gần chùa Nông, trước cửa trạm là sông Lợi Nông.
(2): Những câu thơ sử dụng trong bài viết này trích trong tập Nông giang thi lục (được in trong cuốn Phạm Phú Thứ Toàn tập, NXB Đà Nẵng, 2014).
VÂN TRÌNH
2 giờ trước
1 giờ trước
8 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
8 phút trước
16 phút trước
17 phút trước
35 phút trước
41 phút trước
42 phút trước
46 phút trước
46 phút trước
53 phút trước