Tiếng xưa trên Vọng Hải đài

Quần thể Ngũ Hành Sơn nhìn từ trên cao. Ảnh: Tư liệu
Vọng Hải đài là cái đài ngắm biển xây dựng trên đỉnh Hạ Thai, một trong ba ngọn của hòn Thủy Sơn xây về hướng Biển Đông. Thuở xưa, do đích thân vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1837. Phía trước đài dựng một tấm bia đá, mặt bia khắc ba chữ Hán lớn (đại tự) “Vọng Hải Đài”. Để đối xứng, về hướng tây, hướng tầm nhìn về phía sông Cổ Cò chảy dưới chân ngọn Kim Sơn, nhà vua cho xây một cái đài ngắm sông, đặt tên là Vọng Giang đài.
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Trong hành trình khảo sát Ma nhai - tức là khảo sát những văn tự cổ, tác phẩm xưa, chạm khắc trong các hang động, trên vách núi Ngũ Hành Sơn, với tôi, có lẽ những đại tự chạm khắc trên bia đá này được xếp vào loại quý hiếm. Dường như đôi bàn tay của mình chạm vào đấy là chạm vào những hồi quang lấp lánh các giá trị văn hóa, lịch sử mà người xưa đã lưu lại trên danh thắng này.
Đứng kề sát vách núi đằng sau Vọng Hải đài, tuồng như chỉ mỗi cái cửa đá này là gió từ biển thổi vào tung bay rõ tiếng nhất. Gió chen nhau từng luồng, từng ngọn, dào dạt thổi qua; ném tung những chiếc lá rơi nghiêng lượn lờ và rồi mất hút về phía vô biên.
Nơi này đây, gần trăm năm trước thi sĩ Phạm Hầu đã từng đi qua. Rồi không hiểu ông nghe ra từ cây lá xôn xao kia mách bảo với thi sĩ những gì mà thơ ông nhuốm một nỗi buồn hờn trách núi: “Cái cây thi sĩ vô tình đã/ Rơi những tờ thư lá bẽ bàng”. Trời đất ! Cây cối mà còn làm thi sĩ huống là người. Người đứng trước mênh mông biển, trước chon von núi đứng lúc nào cũng lõa xõa mây bay, thoắt ẩn thoắt hiện như là muốn xóa bỏ đi cái thực tại này để được tan vào hư không.
Dường như trong tiếng gió thổi qua mơ hồ từng âm vọng : “Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai”; dư ba ấy khiến tôi liên tưởng đến bài thơ bất hủ Vọng Hải đài của thi sĩ Phạm Hầu. Ngọn thi sơn sừng sững được thi sĩ tạo dựng bằng thơ, bên cạnh một Vọng Hải đài đá núi, cả hai bất sá thời gian như muốn diễn dịch cho con người ta ngộ ra lý do của vô tận là gì.
Bắt chước người xưa tôi cũng thử Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai. Hỏi một câu hỏi như là vô thức mách bảo, như ngàn gió thổi tan vào hư vô, cho núi non càng thêm chót vót nỗi cô đơn, cho biển mênh mông càng thêm nỗi ngàn trùng. Đứng trên Ngũ Hành Sơn nghe gió vọng qua chưa bao giờ cạn tiếng. Trong thanh âm vi diệu ấy liệu có tiếng người xưa vọng về.
Sức sống thẩm mỹ của một di sản
Dạo bước vào bên trong nhiều hang động, không rõ từ bao giờ thấy người ta viết, người ta khắc chạm lên những vách đá lắm lắm những câu thơ, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ. Cũng có thể là khách nhàn du tức cảnh sinh tình, cũng có thể là lời tỏ tình cậy nhờ núi thiêng làm nhân chứng.
Các nhà nghiên cứu về Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn đã từng tìm ra trên vách đá, trên sườn núi có đến những 78 bia chữ Hán và chữ Nôm đã được công nhận là Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nhưng tôi lại muốn nói đến một thứ “ma nhai” thi ca mang tên Vọng Hải đài mà thi sĩ Phạm Hầu đã ký gởi vào đất trời Ngũ Hành Sơn.
Nếu hiểu rằng Ma nhai là những thứ văn tự, tác phẩm khắc chạm trên vách núi, sườn núi được thời gian lưu giữ, thì Vọng Hải đài - thơ của thi sĩ Phạm Hầu gần một thế kỷ qua, đã chứng minh sức sống thẩm mỹ của một di sản. Đến như Hoài Thanh - Hoài Chân tác giả Thi nhân Việt Nam; đã phải nắn nót đến từng lời, từng câu chữ nhận định về thơ Phạm Hầu: “Ở giữa đời, Phạm Hầu là cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi. Người còn mãi sống với mình, và con người mà ta tưởng không có gì, lại là một người giàu có vô vạn. Lòng người là một Vọng Hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm: qua lại thiếu gì mây sớm gió chiều…” (Thi nhân Việt Nam, tr.159 - 160, NXB Văn học, tái bản 1988).
Có vẻ như khi đối diện với sự thâm nghiêm sâu lắng của núi đồi cỏ cây chập chùng, ta dễ chừng nghe được lao xao gió mang hồn quê xứ thổi về. Cũng chả rõ có phải là cao trào của cảm xúc hay một khoảnh khắc thần thánh thăng hoa mà tôi có cuộc lãng du này. Nhưng điều này thì tôi tin, rằng luôn có một tương quan nào đó giữa thế giới và con người, giữa tiếng nói sự vật mách bảo cùng trái tim thi sĩ.
Vọng Hải đài đá núi Ngũ Hành Sơn nói với trái tim thi sĩ Phạm Hầu những gì thì tôi không hiểu, nhưng di sản thơ - Vọng Hải đài lung linh mãi gần trăm năm là chứng minh sự sống vĩnh hằng. Thế giới cảnh quan sự vật quanh ta có là tha thể hay không mà dậy trong ta lắm nỗi niềm.
Bước xuống núi rồi mà tiếng huyền hồ lẫn trong lời gió núi cứ gờn gợn trong tôi một nỗi u hoài như tiếng hỏi hư vô: “Chẳng biết xa lòng có những ai”!
NGUYỄN NHÃ TIÊN
4 giờ trước
31 phút trước
3 giờ trước
1 giờ trước
23 phút trước
35 phút trước
53 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước