🔍
Chuyên mục: Du lịch

Ngược dòng Ô Giang

1 giờ trước
Trên vùng đất phía Nam của tỉnh Quảng Trị, sông Ô Lâu, Ô Giang, Vĩnh Định và Thạch Hãn là tuyến đường thủy quan trọng về giao thương và quân sự dưới triều Nguyễn. Trong đó, nếu Ô Lâu và Thạch Hãn là quà tặng hoàn toàn từ tự nhiên, thì Ô Giang và Vĩnh Định lại là những công trình nhân tạo, được đào đắp bằng sức người trên nền những con lạch cổ từng kết nối Ô Lâu và Thạch Hãn, nhưng về sau dần bị phù sa bồi lắng theo thời gian.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí và Châu bản triều Nguyễn, sông Vĩnh Định được khởi công vào tháng 3/1825 (năm Minh Mạng thứ 6) và đại công trình này hoàn thành chỉ sau hơn 3 tháng. Để ghi nhận tầm quan trọng của dòng sông, năm 1836, vua Minh Mạng đã cho khắc hình tượng sông Vĩnh Định lên Thuần Đỉnh trong bộ Cửu Đỉnh. Đến năm 1842, trong chuyến ngự tuần ra Bắc, nhận thấy đoạn đường thủy nối Ô Lâu-Vĩnh Định bị hẹp và cạn dòng vào mùa khô, vua Thiệu Trị đã hạ lệnh cho quan binh địa phương khơi thông, mở rộng sông Ô Giang, nhằm kết nối thông thoáng toàn tuyến đường thủy này.

Sông Ô Giang chảy qua các thôn Câu Nhi, Hà Lộc, Hà Lỗ, Diên Trường, An Thơ, Hưng Nhơn thuộc vùng Nam Hải Lăng ngày nay, rồi nối với kênh đào Mai Lĩnh, dẫn đến cồn Dét thì nhập vào sông Vĩnh Định. Tại bến sông làng Câu Nhi, nơi có doi đất hình đầu con rùa được người dân bấy lâu xem là linh địa, chúng tôi bắt đầu xuôi dòng Ô Giang để tìm về Vĩnh Định. Những rặng tre từ bao đời vẫn ôm ấp, chở che cho làng quê, cứ vươn mình soi bóng xuống mặt nước mơ màng như tranh vẽ. Lòng sông cứ thế mở ra mênh mang, như muốn thu vào tất cả trời cao đất rộng.

Nuôi cá lồng trên sông Ô Giang ở thôn Văn Trị, xã Nam Hải Lăng - Ảnh: P.T.L

Chúng tôi xuôi theo dòng nước lặng lờ trôi. Bên kia là Lương Điền, bên này là Câu Nhi, Hà Lộc, Hà Lộ... những ngôi làng nổi tiếng với những nếp nhà rường cổ kín “trước cau sau chuối”, dẫu đã trải qua mấy trăm năm bể dâu vẫn trường tồn cùng thời gian. Lòng bâng khuâng chợt nhớ về những phiên chợ nghèo bên sông, nhớ cây đa bến nước thuở còn cách trở đò giang.

“Trăng tròn rời bến Ô Giang

Đến khi trăng khuyết mới sang được bờ

Sông Ô nước chảy lững lờ

Chợ hôm làng Hói anh chờ em sang

Bên tê em vẫn đợi chàng

Vì sông nổi sóng dở dang chuyện mình...”

Đôi bờ Ô Giang vẫn còn đó những bến nước, con đò trầm mặc như chờ như đợi, người dân quê sau một ngày lam lũ với ruộng đồng lại trở về hòa mình cùng dòng nước. Những hình ảnh thân thuộc vẫn không nhạt nhòa với những ai dù rời quê lên phố nhưng lòng vẫn luôn thương nhớ quê nhà.

Thao thức cùng con nước và những cuộc đời bên sông, chúng tôi ghé thăm thôn Văn Trị. Ông Phạm Tài Kiểm, Bí thư Chi bộ thôn cho hay, toàn thôn có 230 hộ dân, cuộc sống chủ yếu gắn với 100ha lúa hai vụ. Ngoài cây lúa, nhiều gia đình còn nuôi cá lồng trên sông. Vào thời kỳ cao điểm, cả thôn có đến gần 70 lồng bè, mỗi lồng sau một năm thường cho thu nhập từ 30-50 triệu đồng; tiêu biểu nhất là hộ anh Phạm Văn Tình với mô hình nuôi cá chình, cá trắm. Nghề nuôi cá lồng không chỉ tạo thêm thu nhập, mà còn góp phần hạn chế tình trạng người dân dùng xung điện đánh bắt cá trái phép, qua đó bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái.

Từ chuyện con cá, hạt lúa, chuyện con nước đầy vơi mùa lũ, ông Kiểm lại không quên nhắc đến chuyện nguồn nước sinh hoạt của người dân và mơ ước mai này sẽ có nước sạch. “Chẳng riêng gì thôn Văn Trị, hầu hết các thôn dọc theo dòng Ô Giang đều sử dụng nước sông như chúng tôi, nhưng bể lọc của thôn Văn Trị đã bị xuống cấp nên khó khăn hơn”, ông Kiểm trăn trở.

Càng đi ngược về phía Bắc, hai bên dòng Ô Giang là ruộng đồng thẳng cánh cò bay, lác đác là những đầm sen khoe sắc. Hương sen dịu dàng như làm vơi bớt cái oi nồng của ngày hạ. Dòng Ô Giang từ xa xưa đã là bến đỗ cho biết bao cuộc đời mưu sinh bằng nghề sông nước. Nhiều vạn chài nhỏ đã lên bờ, sống gắn bó với ruộng đồng, bờ bãi, nhưng lòng người vẫn không quên con nước đầy vơi. Họ có thể là những chị nông dân từ các làng nhỏ ven sông, nơi người địa phương vẫn gọi là "càng", tranh thủ mùa nước lớn để kiếm thêm thu nhập. Ngư cụ đơn giản chỉ là một chiếc rớ nhỏ đặt cạnh dòng nước chảy. Bí quyết để có nhiều cá chỉ gói gọn trong hai chữ “kiên nhẫn”, dẫu sản vật đánh bắt được cũng chỉ là loài cá nhỏ.

Thi thoảng, chúng tôi còn bắt gặp dăm ba con thuyền đến từ những làng chài phía Nam dòng Ô Lâu. Họ ngược dòng Ô Giang từ hói Dét để mưu sinh. Giữa các loại ngư cụ, có lẽ quăng chài là cái nghề đòi hỏi sự kỳ công và khéo léo bậc nhất.

Chài có dạng hình chóp, mắt lưới đan đều từ đỉnh xuống tận dụi-phần túi lưới chạy quanh vòng tròn đáy để giữ cá. Để chài chìm nhanh, người ta gắn thêm những mảnh chì nặng dọc mép biên. Mỗi lần đánh bắt, ngư phủ phải trụ chân thật vững trên mui thuyền, giữ thăng bằng tuyệt đối rồi bất ngờ tung mạnh chài về phía trước. Chiếc chài xòe tròn như một chiếc ô lớn, chụp gọn xuống lòng sông. Chờ một lát cho lũ cá hoảng sợ sau khi chúi xuống đáy sông ngoi lên mắc lưới, người thợ chài mới từ từ kéo dây dong. Dụi chài chụm lại, gom trọn tôm cá vào trong trước khi được kéo lên khoang thuyền. Vì diện tích đáy chài nhỏ, phạm vi bao vây hẹp, nên kiểu đánh bắt này chỉ hiệu quả ở những khúc sông cá đi theo đàn, thường cần sự phối hợp nhịp nhàng của từ hai con thuyền trở lên.

Ngày xưa, khi phương tiện giao thông còn thô sơ, đường bộ chưa mở mang, tuyến đường thủy Ô Lâu-Ô Giang-Vĩnh Định-Thạch Hãn-Hiếu Giang-Bến Hải từng giữ vai trò hết sức quan trọng, nối liền vùng đất Quảng Trị với xứ kinh đô Huế. Ngày nay, đường sá đã thông thương, ai còn nhớ về con đường thủy từng rộn ràng, tấp nập thuở xa xưa ấy?

Nhìn dòng nước, chúng tôi lại bâng khuâng chuyện cũ. Hình như mặt nước vẫn còn in bóng những đoàn thuyền rồng lộng lẫy cờ hoa trên đường hộ giá vua quan nhà Nguyễn đi kinh lý, thấp thoáng sau mạn thuyền “trướng phủ màn che” là dáng hình kiêu sa của biết bao cung tần mỹ nữ. Thi thoảng, ẩn hiện xa mờ là những cánh buồm nâu dãi dầu mưa nắng, chở nặng bao nỗi buồn vui của kiếp thương hồ. Đâu rồi những con thuyền từng một thời xuôi ngược cùng Ô Giang?

Theo dòng Ô Giang hướng về sông Vĩnh Định, hai bên bờ là hệ thống đê bao chống lũ được xây dựng kiên cố, như ôm lấy cánh đồng lúa xanh thẳm. Thi thoảng, giữa lưng trời lại xuất hiện những tháp nước tròn nhà máy nước mini lấy nước trực tiếp từ dòng Ô Giang để cung cấp cho người dân trong các xóm nhỏ phía sau cánh đồng.

Con thuyền vẫn lững lờ trôi về phía trước. Với Ô Giang, đoạn sông rộng nhất là nơi ngang qua nhà thờ Cây Da. Ngày trước, muốn đến nơi này vào mùa mưa người ta phải “qua sông lụy đò”, còn mùa khô thì đi bộ men theo các con đê, bờ ruộng, vòng vèo khá xa. Giờ đây, đường sá mở mang, việc đi lại đã thuận tiện hơn rất nhiều.

Nhà thờ Cây Da vẫn trầm mặc bên sông. Mỗi sớm mỗi chiều, tiếng chuông lại buông dài trên mặt nước, như một lời cầu nguyện cho quê hương xứ sở nơi này luôn được bình yên, và dòng Ô Giang kia vẫn mãi trong xanh cùng thời gian.

Phan Tân Lâm














Làng cổ Bích La
Báo Quảng Trị 1 giờ trước

Home Icon VỀ TRANG CHỦ