🔍
Chuyên mục: Tài chính

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

14 phút trước
Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.

Báo cáo ngành ngân hàng do Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho thấy, các ngân hàng thương mại đã quay trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD, gồm các khoản đã ký và đang triển khai, tại 4 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân kể từ đầu năm 2026.

Theo đó, VPBank dẫn đầu với khoản vay liên kết bền vững hạn mức 1,44 tỷ USD kỳ hạn 3 năm ký ngày 30/6, tăng so với quy mô 1,2 tỷ USD ban đầu.

Techcombank đang có kế hoạch huy động 1 tỷ USD; HDBank ký kết khoản vay 721 triệu USD vào tháng 7, tăng từ mức 450 triệu USD ban đầu; trong khi ACB cũng đang tiếp cận thị trường với khoản vay trị giá 300 triệu USD.

Theo Chứng khoán Yuanta, điều các ngân hàng hướng tới là kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, chứ không phải chi phí rẻ. Biên độ lãi suất vay gần đây của các ngân hàng Việt Nam dao động cao hơn 140 - 170 điểm cơ bản (bps) so với lãi suất Secured Overnight Financing Rate (SOFR) - lãi suất tài trợ qua đêm có bảo đảm do Cục Dự trữ Liên bang New York công bố.

Khoản vay năm 2022 của Techcombank từng được ấn định biên độ 140 điểm cơ bản, 155 điểm cơ bản và 170 điểm cơ bản tương ứng cho các kỳ hạn 3, 4 và 5 năm.

“Với mức SOFR hiện tại khoảng 3,62%, chi phí vay bằng USD ước tính khoảng 5 - 5,3% (giả định biên độ giữ nguyên ở mức năm 2022). Tuy nhiên, sau khi tính thêm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp, chúng tôi cho rằng, chi phí thực tế của nguồn vốn quốc tế không rẻ hơn huy động trong nước” - nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Do đó, Chứng khoán Yuanta cho rằng, động lực huy động vốn quốc tế không xuất phát từ lợi thế về chi phí. Thay vào đó, các khoản vay này giúp giải tỏa áp lực thanh khoản ngắn hạn bằng việc bổ sung nguồn vốn mới trong bối cảnh thanh khoản nội địa thắt chặt.

Cùng với đó, cung cấp nguồn vốn ổn định thông qua kỳ hạn dài hơn thường từ 3 - 5 năm so với tiền gửi khách hàng trong nước, vốn chủ yếu ở kỳ hạn 6 - 12 tháng.

Theo quan sát của Chứng khoán Yuanta, các ngân hàng muốn tiếp cận nguồn vốn quốc tế thường phải đáp ứng một số điều kiện. Đó là quy mô và xếp hạng tín nhiệm quốc tế; mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tín dụng quốc tế, như Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) dẫn dắt cho VPBank, hay Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)/Standard Chartered cho HDBank.

Cùng với đó, các khoản vay quốc tế gần đây thường được cấu trúc dưới dạng tín dụng xanh, liên kết bền vững hoặc tín dụng xã hội.

Dù vậy, theo nhóm phân tích, các yếu tố then chốt cần theo dõi đến từ việc gia tăng vay nợ quốc tế có thể làm thay đổi rủi ro nguồn vốn, khi các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn bán buôn. Bên cạnh đó, các bên cho vay có thể sẽ trở nên chọn lọc hơn nếu có nhiều ngân hàng cùng cạnh tranh huy động nguồn vốn quốc tế.

Ánh Tuyết

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ