Neo mình bên dòng Đà Giang
Bên dòng Đà Giang...
Chiếc thuyền chòng chành khi ông Khoát đưa tay kéo lại sợi dây neo. Phía dưới, mặt nước sông Đà không ngừng chuyển động. Những chiếc lồng cá nối nhau thành từng cụm, dập dềnh theo nhịp sóng. Ông Nguyễn Văn Khoát năm nay 71 tuổi, đã quen với chuyển động ấy khi hơn nửa đời người gắn bó với xóm vạn chài (tên gọi chung cho cộng đồng dân ngụ cư) vùng sông nước này.
Theo ông Khoát, người dân xóm vạn chài hiện nay có gốc từ Bạch Hạc, Cổ Đô, Trung Hà... Từ ngã ba Bạch Hạc, nơi sông Đà hòa vào sông Hồng, những chiếc thuyền cứ ngược dòng tìm kế sinh nhai, dừng chân ở đâu, dần hình thành một làng chài ở đó. Rồi người tụ họp, kẻ tách đi, những xóm vạn chài lần lượt hình thành dọc dòng Đà Giang, kéo dài đến tận hạ lưu Nhà máy thủy điện Hòa Bình, trong đó, xóm vạn chài dưới chân cầu Thống Nhất là đông hơn cả. Người vạn chài phần lớn có quan hệ họ hàng, máu mủ, cho nên giữa những căn nhà nổi chông chênh trên mặt nước, tình làng nghĩa xóm lại bền chặt đến vậy.

Cá trắm là loại cá chủ lực được ông Khoát chọn nuôi.
Ở xóm vạn chài, người ta có thể không nhớ chính xác một ngày bắt đầu từ lúc nào, nhưng thường nhớ rất rõ những mùa nước. Nước lên thì phải lo neo nhà, giữ lồng cá. Nước rút lại tính chuyện đánh bắt, chăm cá, kiếm thêm thu nhập. Mọi sinh hoạt gần như đều xoay theo dòng sông.
“Trước kia, xóm vạn chài từng có 72 hộ dân với 247 nhân khẩu - tính đến năm 2022). Qua nhiều lần di chuyển và một số hộ đã lên bờ mưu sinh, nay xóm chỉ còn khoảng 40 hộ với hơn 150 nhân khẩu. Nhiều thanh niên của xóm giờ đây đã lên bờ đi làm cho các công ty hoặc đi công trình xa, xóm chài còn lại chủ yếu là người già và trẻ nhỏ”, ông Khoát cho hay. Sau đợt sáp nhập tổ dân phố, cộng đồng xóm vạn chài hiện thuộc địa bàn tổ 23, phường Hòa Bình.
Mưu sinh với sông nước, cuộc sống của người dân vạn chài thường không ổn định, cứ lênh đênh theo con nước. Chính quyền địa phương đã quan tâm, cấp hộ khẩu thường trú, bố trí đất cho các hộ dân xóm vạn chài lên bờ làm nhà. Nhiều hộ cũng đã rời dòng sông để lên bờ, nhưng rồi vẫn chọn xóm vạn chài trên dòng Đà Giang làm nơi mưu sinh. Ông Khoát cho biết, có đất làm nhà nhưng không đồng nghĩa có tư liệu sản xuất, không ruộng, vườn... nên nhiều hộ dân vẫn sống và mưu sinh dưới nước.
Câu nói của ông Khoát lý giải phần nào vì sao giữa lòng phố thị, một cộng đồng dân cư vẫn neo nhà trên mặt nước. Lên bờ đồng nghĩa với thay đổi cách sống. Nhưng với những gia đình đã nhiều thế hệ làm nghề cá, không có đất sản xuất, việc rời sông không hề đơn giản.
Ngày trước, khi chưa có nghề nuôi cá lồng, người vạn chài chủ yếu đánh bắt tự nhiên. Ngày nào cá tôm nhiều thì có tiền mua gạo, ngày ít thì bữa ăn đạm bạc. Người dân muốn xuống xóm vạn chài không dễ. Không đường, không điện, phải đi qua những lối nhỏ, rồi từ bờ xuống thuyền. Cuộc sống của người dân bắt đầu có những thay đổi rõ hơn khi Nhà nước quan tâm đầu tư kè bờ sông, làm đường xuống và kéo điện lưới. Với người trên bờ, đó có thể chỉ là một con đường. Với người vạn chài, đó là con đường nối họ với thành phố. Điện về, những căn nhà nổi có ánh sáng. Đường xuống bờ được mở, xe máy, xe đạp có thể tiếp cận gần hơn với nơi ở. Trẻ con đi học thuận tiện hơn.
Nhấp chén trà nóng, ánh mắt ông Khoát nhìn xa xăm về phía đập thuỷ điện Hòa Bình, nơi mỗi lần xả lũ ông lại thấy lo lắng dù đã được báo trước. Người dân xóm vạn chài luôn đối mặt với không ít rủi ro cho tính mạng và tài sản, nhất là những ngày mưa bão và thủy điện Hòa Bình xả lũ.
... lênh đênh vạn chài nơi phố thị
Tôi lân la hỏi ông Khoát đủ thứ chuyện, rồi được trải nghiệm cảm giác chông chênh của sóng, của gió giữa xóm vạn chài nơi phố thị. Sinh năm 1955, ông Nguyễn Văn Khoát đã gắn bó với xóm vạn chài trên dòng Đà giang này hơn nửa đời người. Nhưng ít ai biết rằng người đàn ông với nước da mặn mòi sóng gió ấy từng là bộ đội Cụ Hồ (thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng). Từng kinh qua những năm tháng bom đạn ác liệt trên các chiến trường miền Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc tại mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang cũ) trên cương vị Đại đội trưởng.
Trải qua biết bao gian khổ của thời chiến, khi hòa bình lặp lại, ông Khoát trở về cuộc sống đời thường với quân hàm Trung úy, rồi tiếp tục chọn dòng Đà Giang làm nơi dừng chân, gác lại quá khứ để bước vào một “cuộc chiến” mới, cuộc chiến mưu sinh giữa lòng Đà Giang.
Ngôi nhà nổi của vợ chồng ông Khoát không quá lớn nhưng cũng đủ các vật dụng thiết yếu cho một gia đình. Xung quanh nhà là gần chục lồng cá được ông Khoát đầu tư, chăm chút cẩn thận. Mỗi lồng là một khoản đầu tư không nhỏ cho lưới, phao, khung và cá giống.
Trải qua nhiều năm đúc kết kinh nghiệm, ông Khoát nhận ra các loại cá đặc sản như cá chiên, cá ngạnh tốn chi phí đầu tư rất lớn, tỷ lệ hao hụt cao lại không có lãi. Vì vậy, ông chọn nuôi chủ lực là cá trắm. Mỗi lần thả giống, ông chọn cá đã đạt trọng lượng 2-3 kg/con để đảm bảo sức sống.

Ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Khoát vừa để ở, vừa nuôi cá lồng.
Nghề nuôi cá lồng đặt người dân trước không ít rủi ro. Nhiều đợt hồ thủy điện Hòa Bình xả lũ đột ngột, nếu không kịp di chuyển lồng vào khu vực an toàn, cá bị “chối nước” chết hàng loạt, khiến người nuôi đối diện với nguy cơ mất trắng, ông Khoát cho biết.
Để giảm chi phí và giữ chất lượng thịt cá, ông Khoát không dùng các loại thức ăn tăng trọng. Hai vợ chồng ông Khoát chọn phương pháp nuôi truyền thống bằng cỏ và thức ăn tự nhiên. Đất trên bờ không có, ông bà phải thuê đất để trồng cỏ, chuối... Mỗi ngày, hai vợ chồng lại cần mẫn lên bờ cắt khoảng 2 tạ cỏ, chất lên xe kéo về bến cho cá ăn. Ngoài cỏ, ông còn tận dụng cây chuối làm thức ăn.
Lồng cá của ông Khoát giống như một vòng quay liên tục. Cá lớn đến đâu bán đến đó. Người mua chủ yếu là khách quen, người trong khu vực hoặc những người buôn cá mua lại rồi đưa lên bờ bán. “Cá không nuôi cám tăng trọng nên lớn chậm, nhưng thịt chắc và thơm ngon”, ông Khoát cho biết.
Câu chuyện tưởng đơn giản nhưng phía sau là cả bài toán sinh kế. Sau khi trừ chi phí, mỗi tháng hai vợ chồng ông thu nhập ổn định khoảng 10 triệu đồng. Ông Khoát cười sảng khoái nói đó không phải là số tiền lớn, nhưng đủ để hai vợ chồng già sinh hoạt và tiếp tục với nghề mà mình đã gắn bó.
Ông Khoát cho biết: Mỗi khi nước lớn, lồng bè của các gia đình phải di chuyển vào khu vực an toàn. Nhà nổi cũng phải gia cố lại dây neo. Những công việc vốn đã quen tay nhưng chưa bao giờ trở nên nhẹ nhàng, bởi phía dưới chân là dòng nước và phía trên là cả gia sản của một gia đình.
Từ trên cầu Thống Nhất nhìn xuống, xóm vạn chài nằm thấp hơn hẳn so với phố xá. Những ngôi nhà nổi nhỏ bé nép bên dòng nước. Những sợi dây nối căn nhà với bờ. Những chiếc lồng cá nổi dập dềnh trên mặt nước. Chỉ vài trăm mét phía trên là “phố thị” đang từng ngày thay đổi. Còn ở dưới xóm vạn chài, nhịp sống dường như chậm hơn, vẫn vậy. Nhà ở trên nước, sinh kế ở dưới nước và tương lai luôn phụ thuộc rất nhiều vào con nước. Một làng nhỏ dưới chân cầu. Một cộng đồng người giữa lòng đô thị. Và một dòng sông đã trở thành quê hương.
Ngọc Tuấn
1 giờ trước
1 giờ trước
12 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước