🔍
Chuyên mục: Tài chính

Mô phỏng bài toán áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng

1 giờ trước
Giảm lãi suất không chỉ là câu chuyện liệu các ngân hàng có đồng thuận hạ lãi suất niêm yết hay không, mà bị ảnh hưởng nhiều bởi cấu trúc nội tại của hệ thống ngân hàng.

Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, áp lực thanh khoản từ thị trường 1 sẽ lan sang thị trường 2 và thị trường OMO, khiến áp lực tăng lãi suất trở thành một vấn đề tất yếu. Số liệu mới nhất từ báo cáo tài chính được công bố càng củng cố cho xu hướng này.

Hệ thống ngân hàng đứng trước một bài toán khá khó cân bằng: nền kinh tế cần lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng thanh khoản của các ngân hàng lại liên tục chịu áp lực.

Đến cuối quí 1-2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 3,18%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 0,55%, tức tín dụng tăng nhanh gấp gần 6 lần huy động. Áp lực này càng được thể hiện rõ hơn khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải liên tục bơm thanh khoản qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong tuần đầu tháng 4-2026, NHNN bơm mới hơn 286.000 tỉ đồng qua OMO và bơm ròng gần 96.000 tỉ đồng sau khi trừ lượng đáo hạn. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: các ngân hàng có thể giảm lãi suất thực chất hay chỉ giảm trên danh nghĩa và liệu việc giảm lãi suất sẽ ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động của các nhóm ngân hàng như thế nào?

Áp lực thanh khoản hình thành từ đâu?

Áp lực thanh khoản hiện tại không phải là hiện tượng mới mà là kết quả của một giai đoạn dài tín dụng thường tăng nhanh hơn huy động. Số liệu NHNN công bố cuối năm 2025 cho thấy huy động vốn mới tăng hơn 14%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng tín dụng đã vượt mốc 19% tại cùng thời điểm.

Và tình hình chênh lệch này đã duy trì từ năm 2023 đến nay. Sang năm 2026, chênh lệch tiếp tục xuất hiện khi các tổ chức tín dụng kỳ vọng tín dụng tăng 18,1%, cao hơn tốc độ tăng huy động vốn dự kiến 16,3%, cho thấy vấn đề này có tính kéo dài chứ không phải biến động ngắn hạn.

Khi thị trường 1 giao dịch (giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế và dân cư) không cung cấp đủ vốn, áp lực sẽ chuyển sang thị trường 2 - thị trường liên ngân hàng.

Đây là nơi các ngân hàng vay mượn lẫn nhau để bù đắp thiếu hụt vốn ngắn hạn, phục vụ thanh toán, dự trữ bắt buộc và cân đối trạng thái cuối ngày. Lãi suất liên ngân hàng vì vậy thường được xem như nhiệt kế đo trạng thái thanh khoản của hệ thống.

Khi một nhóm ngân hàng thiếu vốn ngắn hạn, nhu cầu vay trên thị trường 2 tăng lên và kéo lãi suất qua đêm, 1 tuần, 2 tuần tăng mạnh. Cuối tháng 3-2026 là một ví dụ rõ ràng khi lãi suất qua đêm có lúc tăng vọt lên 12% trước khi NHNN tiếp tục bơm ròng lượng lớn tiền đồng qua OMO để hỗ trợ thanh khoản.

Điểm đáng lưu ý là thị trường liên ngân hàng chỉ giải quyết được vấn đề ngắn hạn chứ không phải nguồn vốn dài hạn để tài trợ tín dụng. Nếu một ngân hàng phải liên tục vay trên thị trường 2 để bù cho phần huy động thiếu hụt, chi phí vốn của ngân hàng đó sẽ biến động mạnh và khó kiểm soát.

Trong trường hợp lãi suất liên ngân hàng tăng cao, ngân hàng có thể vẫn phải giảm lãi suất cho vay theo định hướng chung, nhưng chi phí vốn đầu vào thực tế lại không giảm. Khi đó, biên lãi ròng (NIM) bị thu hẹp và áp lực lợi nhuận xuất hiện.

Đối với ngân hàng có vốn mỏng, tài sản thanh khoản thấp và chất lượng tín dụng không cao, sự thu hẹp biên lãi có thể làm giảm khả năng trích lập dự phòng, từ đó tạo rủi ro mới cho bảng cân đối.

Trong tuần đầu tháng 4-2026, NHNN bơm mới hơn 286.000 tỉ đồng qua OMO và bơm ròng gần 96.000 tỉ đồng sau khi trừ lượng đáo hạn. Điều này đặt ra câu hỏi quan trọng: các ngân hàng có thể giảm lãi suất thực chất hay chỉ giảm trên danh nghĩa và liệu việc giảm lãi suất sẽ ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động của các nhóm ngân hàng như thế nào?

Khi thanh khoản căng, NHNN có thể hỗ trợ hệ thống thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn hoặc hoán đổi ngoại tệ. OMO giúp bơm tiền ngắn hạn cho các ngân hàng thông qua cho vay cầm cố giấy tờ có giá, nhờ đó làm dịu cú sốc thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng.

Trong tuần đầu tháng 4-2026, NHNN chào thầu lượng lớn trên kênh OMO và đưa tổng khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố lên 354.825 tỉ đồng. Động thái này giúp lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt sau khi tăng mạnh, nhưng cũng cho thấy mức độ phụ thuộc vào hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn của hệ thống đang ngày một lớn hơn.

Tuy nhiên, OMO chỉ là van điều tiết, không thể thay thế nguồn vốn huy động ổn định từ thị trường 1. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động trong một thời gian dài, NHNN có thể bơm thanh khoản để tránh đứt gãy ngắn hạn, nhưng không thể biến vốn ngắn hạn thành vốn dài hạn cho toàn hệ thống.

Tính đến quí 1-2026, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) trung bình của toàn ngành ngân hàng vẫn đang tiếp tục gia tăng, trong khi chi phí vốn (COF) của hệ thống ngân hàng cũng đã bật tăng đáng kể. Từ quí 4-2025 đến quí 1-2026, chi phí vốn bình quân của các ngân hàng tăng rõ, từ 3,81% lên 4,11%.

Theo ước tính, nhóm ngân hàng quốc doanh tăng nhẹ nhất, từ 3,28% lên 3,46%, nhờ lợi thế quy mô và nguồn vốn rẻ. Nhóm ngân hàng TMCP lớn tăng mạnh hơn, từ 4,17% lên 4,56%, phản ánh áp lực huy động phục vụ tín dụng.

Nhóm ngân hàng TMCP nhỏ có COF cao nhất, tăng từ 5,1% lên 5,5%, do cạnh tranh tiền gửi gay gắt hơn. Khi LDR tiến sát trần an toàn, ngân hàng có ít dư địa thanh khoản hơn và buộc phải tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi mới, đồng thời giảm bớt tốc độ tăng dư nợ.

Đây là lý do khi LDR tăng cao, việc giảm lãi suất cho vay thực chất trở nên khó khăn, vì ngân hàng phải cân bằng giữa duy trì thanh khoản và tối ưu hóa lợi nhuận. Nhóm ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ sẽ chịu áp lực mạnh nhất, dễ dẫn tới cạnh tranh huy động ngầm hoặc phải vay liên ngân hàng nhiều hơn, tăng chi phí vốn và làm co hẹp NIM.

Mô phỏng tác động khi ngân hàng buộc phải giảm lãi suất

Để thấy rõ áp lực thanh khoản và sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng, chúng ta có thể theo dõi bài toán mô phỏng đơn giản bên dưới. Giả định tổng quy mô tiền gửi thị trường 1 là 20 triệu tỉ đồng.

Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh nắm 10 triệu tỉ đồng, nhóm ngân hàng tư nhân lớn nắm 7 triệu tỉ đồng và nhóm ngân hàng tư nhân nhỏ nắm 3 triệu tỉ đồng. Mô hình giả định các ngân hàng thương mại được yêu cầu giảm lãi suất huy động và phấn đấu giảm lãi suất cho vay, trong khi nhu cầu tín dụng vẫn duy trì cao.

Khi lãi suất huy động không được tăng thì việc huy động vốn của hệ thống ngân hàng tiếp tục bị ảnh hưởng và chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động tiếp tục duy trì ở mức cao như mô phỏng bên dưới.

Dựa vào mức tăng trưởng chênh lệch, LDR của các nhóm ngân hàng sẽ gia tăng và nếu không có các biện pháp can thiệp thì sẽ vượt quá mức 85% quy định. Các ngân hàng sẽ cần tìm cách huy động nguồn tiền gửi bổ sung để kéo tỷ lệ LDR quay về mức đầu năm.

Điểm quan trọng trong mô phỏng không nằm ở việc nhóm nào thiếu nhiều ngàn tỉ đồng hơn về mặt tuyệt đối, mà nằm ở khả năng hấp thụ thiếu hụt đó. Với nhóm ngân hàng quốc doanh, khoản thiếu 400.000 tỉ đồng tương đương khoảng 4% quy mô tiền gửi ban đầu.

Đó là lý do mà việc dự thảo Thông tư mới thay thế Thông tư 22/2019/NHNN đưa tiền gửi kho bạc vào công thức tính LDR sẽ giúp các ngân hàng quốc doanh cải thiện đáng kể áp lực thanh khoản.

Nhưng với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ, khoản thiếu 180.000 tỉ đồng sẽ gây áp lực lớn hơn rất nhiều khi nhóm ngân hàng này muốn duy trì đủ nguồn vốn sẽ phải tăng lãi suất lên cao hơn mặt bằng chung nếu vẫn muốn tăng trưởng và vẫn duy trì tỷ lệ LDR ở vùng cho phép của NHNN.

Trong bối cảnh bị yêu cầu giảm lãi suất, nhóm ngân hàng nhỏ có ba lựa chọn không dễ dàng. Lựa chọn thứ nhất là chấp nhận giảm tốc tín dụng, nhưng điều này có thể làm giảm tăng trưởng thu nhập lãi và lợi nhuận.

Lựa chọn thứ hai là giữ tăng trưởng tín dụng bằng cách vay nhiều hơn trên thị trường liên ngân hàng hoặc tham gia OMO nếu có đủ giấy tờ có giá, nhưng đây là nguồn vốn ngắn hạn và biến động. Lựa chọn thứ ba là cạnh tranh huy động bằng các hình thức chi phí ngoài lãi suất niêm yết như quà tặng, ưu đãi phí, chính sách khách hàng lớn hoặc sản phẩm tiền gửi đi kèm điều kiện.

Khi đó, lãi suất niêm yết có thể giảm nhưng chi phí vốn thực tế vẫn duy trì ở mức cao. Đây là lý do tại sao việc giảm lãi suất công khai không đồng nghĩa với việc chi phí vốn của tất cả ngân hàng đều giảm.

Hệ quả trực tiếp của áp lực thanh khoản là NIM bị ép xuống nếu ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay nhưng chi phí vốn thực tế chỉ giảm rất ít hoặc không giảm do vẫn phải cạnh tranh giữ tiền gửi.

Với ngân hàng lớn, phần suy giảm này có thể được bù bằng tiền gửi không kỳ hạn (CASA), phí dịch vụ, khách hàng doanh nghiệp lớn và chi phí vận hành thấp hơn. Nhưng với ngân hàng nhỏ, NIM giảm sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận, khả năng trích lập dự phòng và sức chịu đựng trước nợ xấu.

(*) CFA

Lê Hoài Ân (*)

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ