🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Lễ hội Việt trong thời chuyển đổi số

2 giờ trước
Chuyển đổi số đang thay đổi cách quản lý, tổ chức và truyền thông lễ hội truyền thống, mang đến diện mạo hiện đại, tiện ích. Tuy vậy, theo TS Phạm Văn Tuấn, công nghệ chỉ nên hỗ trợ, không thể thay thế, không làm phai mờ giá trị văn hóa - tâm linh cốt lõi của lễ hội Việt.

Chuyển đổi số tạo diện mạo mới cho lễ hội truyền thống

Theo TS Phạm Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), chuyển đổi số là xu thế không thể đảo ngược, đang tác động trực tiếp lên đời sống văn hóa - xã hội nói chung và hoạt động lễ hội nói riêng. Những năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, truyền thông và khai thác các giá trị văn hóa, khiến nhiều hoạt động lễ hội đầu xuân, di sản, di tích bắt đầu “thay áo mới”.

Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất là việc áp dụng mã QR để tiếp cận thông tin tại nhiều di tích, đền chùa, đình miếu. Chỉ với một thao tác quét mã, du khách có thể xem nhanh nội dung, ý nghĩa, lịch sử của hoành phi câu đối, bia ký hay hiện vật cổ. Điều này giúp công chúng tiếp cận tri thức một cách trực quan, nhanh, chính xác, đầy đủ và hấp dẫn hơn.

TS Phạm Văn Tuấn viết chữ tặng các cháu học sinh tại Bảo tàng Dân tộc học trong những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026

Không dừng ở đó, chuyển đổi số còn thay đổi cách thức truyền thông, tổ chức và lưu trữ lễ hội. Hình ảnh độ phân giải cao, flycam, AI, phim ngắn… đang trở thành “chuẩn mực” mới trong giới thiệu lễ hội, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa, kích cầu du lịch. Những công cụ số tạo ra “bộ mặt hiện đại” cho lễ hội, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi lượng khách, điều phối dòng người, bảo đảm an ninh, trật tự.

Hiện cả nước có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó hơn 7.000 lễ hội dân gian, chiếm tới 88,36%. Dịp đầu xuân, hàng nghìn lễ hội diễn ra đồng loạt, tạo ra nhu cầu rất lớn về quản lý, hướng dẫn và truyền thông. Dù mức độ áp dụng công nghệ giữa các địa phương khác nhau, nhưng nhìn chung, xu hướng số hóa đang lan rộng và được đón nhận tích cực.

Tuy vậy, TS Tuấn nhấn mạnh, bất kỳ sự thay đổi nào cũng có hai mặt. Dưới sự giám sát của chính quyền và các đơn vị tổ chức, tác động tiêu cực được hạn chế, nhưng vẫn cần thận trọng trong từng bước triển khai ứng dụng công nghệ, đặc biệt với các giá trị gắn với tín ngưỡng, tâm linh - vốn rất nhạy cảm và nhiều tầng lớp ý nghĩa.

Cân bằng giữa tiện ích công nghệ và giá trị truyền thống

Theo TS Tuấn, lễ hội truyền thống vốn dĩ là cây cầu nối giữa lịch sử - tín ngưỡng lâu đời với đời sống hiện đại. Do đó, mục tiêu quan trọng nhất là giữ gìn bản sắc, không phải chạy theo công nghệ một cách cực đoan.

Ông cho rằng “công nghệ số chỉ nên hỗ trợ để con người đến gần hơn với di sản, chứ không thay thế các giá trị tinh thần vốn có”. Ví dụ, màn hình lớn đặt tại di tích có thể mô tả không gian kiến trúc xưa qua mô hình 3D, phim tư liệu, giúp du khách dễ hình dung lịch sử. Tuy nhiên, những trải nghiệm tâm linh khi dâng nén nhang, đặt đồng tiền công đức, hay đứng trước pho tượng cổ… là thứ công nghệ không thể mô phỏng hay thay thế.

Hội Dầu khí Hà Nội thăm Khu lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du

Chính vì vậy, việc áp dụng công nghệ cần linh hoạt theo đặc thù địa phương, theo bản chất của từng loại hình lễ hội, không triển khai đại trà. Một số chùa, đình, đền đã thử áp dụng ví điện tử, mã QR cho công đức, nhưng không phải nơi nào cũng phù hợp. “Nhiều người đi lễ quan niệm rằng phải tự tay đặt đồng tiền lên ban thờ mới cảm thấy thiêng, mới đúng phép. Nếu chuyển hết sang quét mã, họ sẽ thấy không hợp lý”, TS Tuấn chia sẻ.

Theo ông, niềm tin tôn giáo gắn với trải nghiệm cảm xúc cá nhân, nên công nghệ không thể thay thế vai trò của các nghi thức truyền thống. Công nghệ chỉ có thể hỗ trợ để người dân hiểu đúng hơn về lễ hội, phân biệt tín ngưỡng lành mạnh với mê tín dị đoan, giảm thiểu thông tin sai lệch, nhưng không thể “giải quyết triệt để” những vấn đề tồn tại hàng nghìn năm.

Ở góc độ xã hội học, TS Tuấn cũng lưu ý mức độ tiếp nhận công nghệ phụ thuộc vào từng nhóm tuổi: Người trẻ dễ thích nghi với các tiện ích số; người trung niên, cao tuổi lại gắn bó với truyền thống và ưu tiên hình thức cúng lễ trực tiếp; một số người hiểu biết sâu về văn hóa - lịch sử lại đánh giá giá trị lễ hội qua kiến thức và trải nghiệm bản thân hơn là qua mã QR hay bảng điện tử. Vì vậy, mọi chính sách ứng dụng công nghệ cần tôn trọng sự đa dạng của người tham gia, tránh áp đặt hay “công nghệ hóa bằng mọi giá”.

Để công nghệ số trở thành công cụ bảo tồn

Để công nghệ số thực sự trở thành công cụ bảo tồn thay vì trở thành gánh nặng cho di sản, TS Phạm Văn Tuấn nhấn mạnh rằng vai trò quyết định nằm ở chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã, nơi hiểu rõ nhất lịch sử di tích, đặc điểm của lễ hội và nhu cầu của cộng đồng. Trung ương chỉ ban hành chủ trương, còn tính hiệu quả phụ thuộc vào cách từng địa phương vận hành, chọn lọc và điều chỉnh công nghệ cho phù hợp với thực tiễn.

Theo TS Tuấn, trước hết, những người trực tiếp quản lý di sản phải thấu hiểu giá trị văn hóa - lịch sử của di tích trước khi nghĩ đến ứng dụng công nghệ. Bởi nếu không hiểu bản chất, việc số hóa rất dễ đi chệch hướng, và “số hóa sai” còn nguy hiểm hơn là không làm gì, vì nó có thể khiến di sản bị diễn giải lệch lạc, méo mó hoặc bị đơn giản hóa quá mức.

Đền thờ Bà Triệu được dựng từ thời vua Lý Nam Đế, tọa lạc trên núi Gai, để tưởng nhớ công lao của nữ anh hùng Triệu Thị Trinh - người có công đánh đuổi quân Đông Ngô

Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ cần được thực hiện có chọn lọc, tránh “làm cho có”. Đã có nơi đầu tư hệ thống mã QR cho công đức nhưng gần như không có người sử dụng, gây lãng phí nguồn lực. Công nghệ số, vì vậy, phải được lồng ghép một cách tự nhiên vào đời sống lễ hội, ưu tiên giải pháp bền vững, tiết kiệm và phù hợp, thay vì chạy theo phong trào hay thể hiện kỹ thuật.

TS Tuấn cũng cho rằng các địa phương cần xây dựng đội ngũ chuyên trách về công nghệ văn hóa, có khả năng phối hợp với chuyên gia để lựa chọn giải pháp đúng với quy mô di tích, mật độ khách tham quan và mức độ sẵn sàng của cộng đồng. Không có lực lượng chuyên môn này, mọi chính sách đều dễ rơi vào tình trạng mạnh ai nấy làm, thiếu đồng bộ và khó kiểm soát chất lượng.

Theo ông, mọi nỗ lực số hóa cần hướng tới hai mục tiêu song hành: vừa nâng cao trải nghiệm của công chúng, vừa bảo tồn và phát huy chiều sâu giá trị truyền thống. Cốt lõi là tìm được “điểm cân bằng” giữa công nghệ và văn hóa, để công nghệ giúp di sản trở nên dễ tiếp cận, rõ ràng và hiện đại hơn, nhưng không can thiệp thô bạo hay làm phai mờ tính thiêng - yếu tố nền tảng của bản sắc lễ hội Việt Nam.

Từ đó, TS Phạm Văn Tuấn cho rằng chuyển đổi số mở ra cơ hội làm mới cách người dân, đặc biệt là giới trẻ, tiếp cận lễ hội và di sản. Tuy nhiên, công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ, nền tảng cốt lõi vẫn là các giá trị tinh thần, tín ngưỡng và truyền thống được bồi đắp qua hàng nghìn năm. Khi người quản lý hiểu đúng di sản, cộng đồng đồng thuận và công nghệ được lựa chọn có trách nhiệm, lễ hội Việt Nam sẽ vừa giữ được hồn cốt, vừa trở nên hấp dẫn, hiện đại và lan tỏa hơn.

Đình Khương



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ