🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Lâm Đồng phát triển vùng trồng Sâm Việt Nam, hướng đến sản xuất công nghệ cao

59 phút trước
Với lợi thế khí hậu phù hợp, nền tảng nông nghiệp công nghệ cao và sự tham gia của doanh nghiệp, Lâm Đồng đang từng bước bảo tồn, phát triển cây Sâm Việt Nam. Tuy nhiên, để hình thành chuỗi giá trị bền vững, địa phương vẫn cần tháo gỡ những khó khăn về nguồn giống, quy trình canh tác và chế biến sâu.

Cánh đồng sâm Bố Chính - Ảnh minh họa

Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng về kết quả thực hiện Chương trình “Phát triển Sâm Việt Nam đến năm 2030”, đến tháng 10/2026, tổng diện tích trồng Sâm Việt Nam trên địa bàn tỉnh đạt 19 ha. Đây là kết quả bước đầu trong quá trình phát triển loại cây dược liệu có giá trị, đồng thời mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại địa phương.

Từng bước mở rộng vùng trồng

Lâm Đồng có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, đặc biệt là những khu vực có độ cao trên 1.200 m, khí hậu mát mẻ quanh năm, phù hợp với quá trình sinh trưởng và bảo tồn các loài dược liệu quý như Sâm Việt Nam. Bên cạnh đó, hệ thống nhà kính, nhà màng và các công nghệ tưới thông minh tạo điều kiện thuận lợi để kiểm soát môi trường canh tác, hạn chế sâu bệnh và nâng cao chất lượng cây trồng.

Tận dụng những lợi thế này, các doanh nghiệp trên địa bàn đang triển khai nhiều mô hình trồng sâm với phương thức khác nhau. Trong tổng diện tích 19 ha hiện có, diện tích trồng dưới tán rừng là 2 ha, toàn bộ do Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh Cao Nguyên thực hiện. Riêng năm 2026, doanh nghiệp trồng mới 1 ha dưới tán rừng, góp phần kết hợp bảo tồn nguồn gen với phát triển vùng nguyên liệu.

Diện tích trồng trong nhà lưới, nhà kính và nhà màng đạt 15 ha. Trong đó, Công ty Giống cây trồng Lạc Dương có 8,9 ha, Công ty Cổ phần Sâm và Dược liệu VGC có 5,2 ha và Công ty Cao Nguyên có 0,5 ha. Các mô hình này được đầu tư hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất như nhà màng, tưới nhỏ giọt tự động và trạm quan trắc vi khí hậu.

Việc ứng dụng công nghệ giúp người trồng chủ động hơn trong kiểm soát điều kiện sinh trưởng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Đây cũng là cơ sở để từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hướng đến phát triển vùng trồng theo hướng chuyên nghiệp.

Chú trọng bảo tồn nguồn gen, chủ động giống

Một trong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển vùng sâm là bảo tồn nguồn gen và từng bước chủ động nguồn giống chất lượng. Thời gian qua, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã hỗ trợ Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh Cao Nguyên triển khai mô hình bảo tồn, lưu giữ nguồn gen giống gốc với quy mô 2.100 cây, được trồng từ tháng 12/2023 tại khu vực xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương trước đây, nay thuộc xã Lạc Dương.

Đến tháng 5/2026, số cây giống này đã được di thực và đưa ra trồng thành công dưới tán rừng tại Phân Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Cam Ly, Đà Lạt. Kết quả bước đầu cho thấy cây Sâm Ngọc Linh có khả năng sinh trưởng, thích nghi tốt, với các chỉ tiêu sinh khối tương đương vùng sâm gốc. Đây là dữ liệu thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn và phát triển sâm tại địa phương.

Trong lĩnh vực nghiên cứu giống, Lâm Đồng đã triển khai các đề tài về khả năng ra hoa, tạo hạt của cây Sâm Ngọc Linh nuôi cấy in vitro và nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom gốc trong điều kiện nhà kính. Đồng thời, doanh nghiệp đã hoàn thiện hồ sơ, tự công bố lưu hành giống Sâm Ngọc Linh mang mã hiệu SNL-DL1 trên Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia. Khoảng 15–20% quần thể cây giống gốc đã bắt đầu ra hoa, đậu quả, tạo tiền đề cho việc tự chủ một phần nguồn hạt giống tại chỗ.

Đối với Sâm Lai Châu, các doanh nghiệp đang nhập hạt giống có nguồn gốc rõ ràng từ tỉnh Lai Châu, sau đó gieo ươm, chăm sóc trong hệ thống nhà màng công nghệ cao tại Lâm Đồng. Việc làm chủ kỹ thuật gieo ươm giúp nâng cao tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống của cây con và từng bước đáp ứng nhu cầu giống cho các vùng trồng thương phẩm.

Cần hoàn thiện chuỗi giá trị

Dù đã có những chuyển biến tích cực, phát triển Sâm Việt Nam tại Lâm Đồng vẫn còn không ít khó khăn. Nguồn giống đạt chuẩn còn hạn chế, giá cây giống gốc cao; trong khi chi phí đầu tư nhà màng, giá thể chuyên dụng và hệ thống kỹ thuật đòi hỏi nguồn vốn lớn. Việc đưa cây sâm từ vùng lõi tự nhiên sang môi trường canh tác nhân tạo cũng tiềm ẩn rủi ro về khả năng thích nghi.

Bên cạnh đó, phát triển sâm dưới tán rừng tự nhiên còn gặp vướng mắc liên quan đến quy định về thuê môi trường rừng và đánh giá tác động sinh thái. Địa phương cũng chưa có bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình canh tác chính thức dành riêng cho mô hình trồng sâm ứng dụng công nghệ cao.

Một hạn chế đáng chú ý khác nằm ở khâu sơ chế, chế biến. Hiện nay, sản phẩm sâm chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô như củ tươi, lá tươi và thân sấy khô. Tỉnh chưa thu hút được các dự án đầu tư quy mô lớn vào nhà máy tinh chế, chiết xuất dược chất Saponin chuyên sâu; đồng thời chưa ghi nhận sản lượng sâm xuất khẩu chính ngạch.

Ở khâu tiêu thụ, hoạt động liên kết đang có chuyển biến khi Công ty Cổ phần Sâm và Dược liệu VGC ký kết hợp tác chiến lược dài hạn với Dược phẩm Thái Minh nhằm bao tiêu và thương mại hóa các dòng sản phẩm sâm chất lượng cao phục vụ thị trường trong nước. Đây là hướng đi cần được phát huy để tăng tính ổn định đầu ra, đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất.

Theo định hướng đến năm 2030, Lâm Đồng phấn đấu phát triển 50 ha Sâm Việt Nam, từng bước tự chủ một phần nguồn cây giống chất lượng cao tại địa phương. Tỉnh cũng định hướng mở rộng vùng trồng ứng dụng công nghệ cao tại những khu vực có điều kiện khí hậu phù hợp như Lạc Dương, Đà Lạt; hướng đến việc 100% diện tích sâm thương phẩm canh tác có kiểm soát được hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt hoặc nông nghiệp hữu cơ và cấp mã số vùng trồng để minh bạch nguồn gốc.

Để đạt mục tiêu này, việc sớm ban hành quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc sâm trong nhà kính, nhà màng; hoàn thiện hướng dẫn về thuê môi trường rừng; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu sẽ có ý nghĩa quan trọng. Khi các khâu từ giống, vùng trồng đến chế biến và tiêu thụ được kết nối đồng bộ, cây Sâm Việt Nam mới có thể phát huy tốt hơn giá trị kinh tế, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và tạo nền tảng phát triển bền vững cho địa phương./.

Trần Quỳnh - Trương Hậu

TIN LIÊN QUAN

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ