🔍
Chuyên mục: Du lịch

Ký ức làng quê

4 giờ trước
Làng tôi có cái tên rất mỹ miều: Quang Châu, nghĩa là viên ngọc sáng. Ngày nhỏ, chúng tôi chẳng hiểu nhiều về sự ví von so sánh ấy, chỉ thấy xóm Trên, xóm Dưới, xóm Rừng, xóm Rẫy chụm đầu vào nhau dưới hàng tre xanh mát rượi. Bao quanh làng là những xứ đồng gắn theo tên đất, tên người bốn mùa xanh mướt màu lúa khoai.

Nét cổ kính của nhà thờ Tiền hiền Quang Châu trước khi được trung tu vào năm 2024. Ảnh: N.H

1. Tên mỗi xứ đất đều chứa đựng hồn vía một thuở khai canh lập địa của ông cha. Như xứ Đồng Chùa kia chỉ là ký ức của ngôi chùa đầu tiên do tiên dân của làng lập nên để lễ Phật. Chùa xưa giờ không còn, chỉ thấy bốn bề mênh mông lúa hát. Hay như cánh đồng Bàu Đưng, xưa kia vốn là vùng đất trũng mọc đầy cỏ dại, cây lác, cây đưng. Rồi Cồn Sơn, Cây Dừa, Ông Lê, Trung Cát…, bốn mùa cứ phơi phới trổ bông bao bọc xóm thôn sáng bừng một màu yên ả.

Trong ký ức của người làng, nhà thờ Tiền hiền Quang Châu như một trái tim, gõ nhịp vào thời gian làm nên hồn cốt của miền quê châu thổ. Trái tim ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi cư dân bằng mạch văn hóa ngọt ngào.

Từ tam quan nhà thờ nhìn ra là xứ đồng Cồn Sơn, giữa biển lúa thanh thanh là mạch (ao) nước Chà Và quanh năm xanh ngắt. Người già vẫn kể rằng, cái tên Chà Và là do ông bà mình đặt khi tiếp quản đất người Chăm. Xứ đồng Cồn Sơn và mạch nước Chà Và quanh năm không bao giờ cạn nằm trước mặt nhà thờ làng và cánh rừng Thượng Lâm xưa phía sau lưng đã tạo nên thế đất “Tọa sơn, vọng thủy” được ông cha ký thác bao ước vọng về hưng thịnh, trường tồn.

Vào những đêm trăng sáng, bọn trẻ chúng tôi ngồi nghe người lớn kể chuyện tình sử bi thương của bà Trần Thị Băng, vợ chí sĩ Thái Phiên. Khi cụ Thái Phiên bị Pháp xử chém ở pháp trường An Hòa, người góa phụ ấy đã lấy mái tóc mình lau thủ cấp chồng rồi trở về làng với lòng u uẩn đến chết. Cũng vì vậy mà mỗi lần đi ngang ngõ nhà cụ Học Băng (thân phụ bà Băng) rợp bóng tre mà tưởng tượng mái tóc dài bê bết máu của người xưa đang bay trong gió. Chỉ vậy thôi là ù té chạy mất cả dép.

2. Làng có tận 5 xóm, Hạ Hòa, Trung Hòa, Hạ Hòa, Thượng Lâm, Hạ Lâm nhưng người làng quen gọi là xóm Trên, xóm Giữa, xóm Dưới và xóm Rừng. Nhà tôi ở xóm Hạ Hòa tức xóm Dưới, thuộc con đất cao nhất nhì làng.

Mỗi năm lụt về, lớn là lội tới đầu gối, nhỏ thì xâm xấp bàn chân. Trẻ con vốn vô tư nên đứa nào cũng mong lụt về để được lội nước, thả bè chuối đi rong khắp xóm bắt dế. Ngày mưa lũ, nước từ cánh đồng tràn vào vườn, lũ dế bị ngập hang nên ngoi lên bám lấy nhau thành từng dề trôi tấp vô bờ cỏ. Dế cơm ú na ú nần, dế than đen thui chắc nịch, tất cả bỏ vô nồi chiên lên thơm nức mũi.

Những ngày mưa nước lớn tràn đồng, người làng thường hay rủ nhau đi coi nước lụt. Coi để biết nước lớn chừng mô, nhanh hay chậm để còn dọn lúa lên gác, cho lợn, gà lên chồ, sau nữa tranh thủ rủ cả xóm mổ heo trữ thức ăn qua những ngày mưa dầm lạnh lẽo.

Tháng Mười Một cũng là mùa đi tuốt lúa rài. Sau vụ hè thu, gốc rạ tự đâm chồi, trổ đòng đòng giữa mưa phùn gió bấc. Nhánh lúa rài dẫu cỗi cằn như đứa trẻ mồ côi nhưng vẫn gồng mình chịu đựng mọi dông gió cuộc đời…

Chúng tôi theo các mẹ, các chị trong xóm đi khắp các cánh đồng để “tìm” lúa. Cả người ướt sũng, dầm mình trong cánh đồng ngập nước, tay cầm nhánh lúa, thận trọng đưa lưỡi liềm cắt ngang bỏ vào chiếc bao lác bên hông. Lúa đem về nhà tuốt từng nhánh, hong khô. Không biết có phải vì tự chắt chiu phù sa trong những ngày mưa gió, mà những bông lúa rài lại mang vị ngọt bùi đến nao lòng.

Đàn bà, con gái Quang Châu không chỉ nổi tiếng nết na, xinh đẹp mà tay nghề làm bánh khiến nhiều nơi biết đến. Cho đến bây giờ, tôi không thể nào quên hương vị của mùi bánh khô, bánh nổ, bánh ít lá gai, kẹo ú, kẹo mè… từ những lò bánh tỏa ra, ướp ngọt cả đường làng quanh co vào mỗi sáng.

Rộn ràng nhất là tháng Chạp. Tiếng giã bột, quết lá gai thình thịch vang vọng như nhịp đập cuộc sống nơi thôn dã khiến lòng người cảm thấy bình yên đến lạ thường. Dẫu bây giờ cuộc sống hiện đại hơn, những chiếc cối đá đã ngủ vùi trong quên lãng nhưng hương vị bánh quê vẫn bảng lảng trong sương mai như một mùi quê nhà không phai theo năm tháng.

3. Bây giờ đang giữa hạ, trời nóng đến nỗi bờ ruộng khô cong rộp cả chân người làm đồng. Nhưng dường như cái nóng từ mặt trời vẫn không ăn thua gì bằng cái nóng trong lòng người. Mấy ngày nay cánh đàn ông trong làng sáng sáng chiều chiều tập trung ở các quán nhỏ bàn chuyện.

Họ không bàn về những trận bóng World Cup 2026 mà nóng ruột về chuyện tách làng thành hai tổ dân phố Quang Châu 1, Quang Châu 2. Lý do là đã có một khoảng thời gian, tên làng Quang Châu được đổi thành Quan Châu. Chỉ mỗi có “g” mà đã bao lần chao đảo cả làng.

Có người nói, cái cổng làng còn đó, hai chữ QUAN CHÂU còn rành rành ở kia. Nhà thờ Tiền hiền vừa mới được cấp công nhận di tích kiến trúc cấp thành phố thì tên làng cũng là QUAN CHÂU. Chừ nói răng lại thêm G vô nữa.

Nhiều người khác vin vào sự tương đồng về ngữ nghĩa là bàn rằng, xưa ông bà mình đặt tên làng ban đầu là Minh Châu, nghĩa là viên ngọc sáng. Sau đó đến thời vua Minh Mạng, do kỵ húy nên chữ MINH đổi thành QUANG. Rất sát nghĩa. Nên tên QUAN CHÂU không đúng ý nghĩa mà cha ông mình đã ký thác…

Với tôi, dẫu có G hay không G, hay danh xưng làng nhường chỗ cho tổ dân phố thì ở cái tuổi 530, làng trong tôi vẫn như thuở trước. Vẫn là mảnh vườn xưa neo đậu trên dòng thời gian để những đứa con xa nhà bấu víu. Vẫn câu hát đưa nôi bềnh bồng trên ruộng lúa, nương khoai nuôi lớn tâm hồn từng đứa trẻ làng. Dẫu bây giờ cuộc sống đã đổi thay, nhưng luôn còn đó những con người vẫn không chịu lớn, luôn đi về phía làng xưa bằng ký ức dịu êm…

NHƯ HẠNH





Nẻo về quê cũ
Báo Bắc Ninh 47 phút trước











Huế thức giấc
Báo Thừa Thiên Huế 4 giờ trước


Home Icon VỀ TRANG CHỦ