🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Kinh tế sự kiện: Trụ cột mới của công nghiệp văn hóa Bài 4: Nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít điểm nghẽn

2 giờ trước
Những chuyển động thực tiễn tại Hà Nội cho thấy, khi được dẫn dắt bằng tư duy thị trường và cơ chế, quyết sách phù hợp, 'mỏ vàng' công nghiệp văn hóa sẽ phát huy tốt vai trò động lực tăng trưởng mới của Thành phố Sáng tạo. Tuy nhiên, để hiện thực hóa kỳ vọng của thành phố Rồng - trung tâm văn hóa mang tầm quốc tế, việc nhận diện các điểm nghẽn đang kìm hãm chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn.

Du khách trải nghiệm tour đêm “Âm sắc Việt” tại Khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Khánh Huy

Hệ sinh thái “cắt khúc” và nghịch lý dòng tiền xuyên đêm

Một nền kinh tế đô thị hiện đại đòi hỏi phân định rõ ranh giới giữa kinh tế đêm vận hành theo hệ sinh thái tích hợp, với hoạt động thương mại mang tính tự phát, mùa vụ.

TS Lê Thị Việt Hà, chuyên gia văn hóa doanh nghiệp (Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, kinh tế đêm của một đô thị hiện đại không phải là việc nới rộng giờ mở cửa muộn của các cơ sở kinh doanh độc lập, hay dọn hàng quán ra vỉa hè theo lối thủ công, ăn đong theo mùa vụ. Bản chất của nó phải là một hệ sinh thái tiêu dùng tích hợp được quy hoạch và lập trình bài bản.

Nhìn vào các mô hình thành công như Myeongdong ở Thủ đô Seoul (Hàn Quốc) hay Shibuya ở Thủ đô Tokyo (Nhật Bản), sản phẩm văn hóa, giải trí hay một giải chạy marathon lớn chỉ đóng vai trò là “mỏ neo” vật lý, tạo sức hút với đám đông. Khi dòng người đã tụ hội, chuỗi mua sắm, ẩm thực, lưu trú phải vận hành liên hoàn để giữ chân người tiêu dùng. Sản phẩm văn hóa tạo lực hút, còn hệ sinh thái dịch vụ mới là nơi tạo giá trị gia tăng.

Đối chiếu với Hà Nội có thể thấy, dòng người dịch chuyển rất mạnh theo các sự kiện văn hóa, giải trí lớn, nhưng hạ tầng dịch vụ xung quanh chưa theo kịp để giữ chân dòng tiền. Ngoại trừ khu vực lõi hồ Hoàn Kiếm, phố cổ hay một vài không gian đi bộ thí điểm vào cuối tuần, các lựa chọn trải nghiệm văn hóa, giải trí xuyên đêm khác vẫn khá hạn chế. Khách quốc tế đến Thủ đô lưu trú trung bình 2-3 ngày, một phần do thiếu hệ sinh thái tiêu dùng hoạt động liên hoàn hỗ trợ.

Theo Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, phát triển kinh tế đêm không có nghĩa là hô hào mở cửa muộn một cách cơ học, mà gốc rễ phải nằm ở sản phẩm đặc sắc. Hiện tại, các sản phẩm du lịch đêm của Hà Nội như tại Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Nhà tù Hỏa Lò mới dừng lại ở mức thử nghiệm, quy mô nhỏ, chưa tạo thành chuỗi cung ứng dịch vụ sôi động. Chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận, Hà Nội có tiềm năng lớn nhưng hiện thực hóa là cả vấn đề. Phố đi bộ Trịnh Công Sơn rơi vào tình trạng vắng khách do chọn sai địa điểm và sai định hướng không gian…

Về vấn đề này, Tổng Giám đốc Travelogy Vũ Văn Tuyên cho rằng, nhiều năm qua, kinh tế đêm của Hà Nội chủ yếu tập trung tại khu vực hồ Hoàn Kiếm, phố cổ, phố Tạ Hiện và một số điểm đơn lẻ, dẫn tới tình trạng quá tải cục bộ trong khi nhiều khu vực khác có tiềm năng lại bỏ ngỏ. Khi văn hóa chưa được tiếp cận bằng tư duy thị trường, tài nguyên dù đồ sộ đến đâu vẫn chỉ dừng lại ở dạng “ngọc thô”, trói buộc dòng tiền quay vòng và làm giảm sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa.

Rào cản từ cơ chế tài chính công

Theo Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cơ chế quản lý vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Trong khi chủ trương xã hội hóa đã được xác định từ nhiều năm, hệ thống chính sách về hợp tác công - tư, khai thác tài sản công, cơ chế tài chính hay quyền tự chủ của các đơn vị văn hóa vẫn còn những khoảng trống lớn, khiến nguồn lực xã hội chưa được huy động tương xứng với tiềm năng.

Chẳng hạn, tại Hàn Quốc, chính phủ có cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp rất thông thoáng cho các start-up về công nghiệp văn hóa. Ở nước ta, điều này vướng ngay quy định pháp luật do ngân sách nhà nước không được phép đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp tư nhân. Ở nước ngoài, cơ chế đầu tư dựa trên ý tưởng và đề án văn hóa diễn ra rất minh bạch; nếu nghệ sĩ có đề án tốt và đã có sản phẩm thành công trước đó, họ gần như chắc chắn sẽ được cấp kinh phí. Còn với chúng ta hiện nay, quy trình thanh quyết toán tài chính công cực kỳ phức tạp và rườm rà, gây áp lực lớn cho người thực hiện.

Dẫn chứng từ thực tiễn điều hành, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên nêu một ví dụ về thể nghiệm nhà nước đặt hàng đơn vị tư nhân sản xuất tác phẩm điện ảnh “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”. Bộ phim thành công cả về nghệ thuật lẫn doanh thu. Tuy nhiên, nút thắt lại phát sinh ở giai đoạn hậu kỳ khi bước vào quy trình thanh quyết toán theo quy định tài chính hiện hành. Điều đó vô hình trung đã tạo ra áp lực cho doanh nghiệp đối tác. Trong khi ở các nước phát triển như Hàn Quốc, “Làn sóng Hallyu” với K-Pop và K-Drama được chính phủ thiết lập cơ chế hỗ trợ và quỹ đầu tư thông thoáng, để trở thành động lực tăng trưởng mới.

Hệ quả của điểm nghẽn cơ chế này là thị trường văn hóa đang bị phân cực, manh mún. Khối doanh nghiệp lớn tự bỏ vốn xây dựng các tổ hợp sự kiện khép kín biệt lập; ngược lại, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ được coi là hạt nhân sáng tạo đô thị lại có sự e ngại vì một số vướng mắc khi muốn tiếp cận dòng vốn công. Vì thế, các ý tưởng dù xuất sắc cũng đành chấp nhận dừng lại ở quy mô dự án ngắn hạn, thay vì hình thành chuỗi giá trị bền vững từ sáng tạo, đầu tư đến tiêu dùng.

Nút thắt nhân lực bộ máy và tư duy quản trị liên ngành

Bên cạnh cơ chế tài chính, năng lực và tư duy của bộ máy thực thi chính sách tại cấp cơ sở cũng là một mắt xích có tính chất quyết định tới sự phát triển công nghiệp văn hóa. Thực tiễn cho thấy, vẫn còn khoảng cách trong quá trình chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, từ tổ chức phong trào sang phát triển các sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng. Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên nhận định, để phát triển văn hóa, yếu tố đầu tiên và quyết định phải là nguồn nhân lực. Trước đây, chúng ta thường chỉ chú trọng đào tạo thợ thủ công, nghệ nhân hay các nghệ sĩ sáng tạo mà quên mất một lực lượng quan trọng là nguồn nhân lực nằm trong bộ máy quản lý nhà nước. Thực tế cho thấy, tư duy quản lý tại nhiều địa phương còn trì trệ, máy móc, cứng nhắc và nhận thức chưa tới.

“Khi đi làm việc tại các địa phương, rào cản đầu tiên tôi vấp phải là đội ngũ cán bộ này. Nếu họ không thấm nhuần, không nhận thức đúng tinh thần của các nghị quyết lớn như Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, thì mọi thứ tiếp tục trì trệ. Chúng ta không thiếu người tài, không thiếu nghệ sĩ giỏi hay nghệ nhân tại các làng nghề. Vấn đề cốt lõi là người đứng đầu, người đưa ra quyết định quy hoạch và kết nối. Một quyết định đúng sẽ thúc đẩy ngành phát triển, còn quyết định sai sẽ bóp chết cả một chính sách. Gần đây, các trường đại học mở ngành công nghiệp văn hóa rất rầm rộ, nhưng tôi thấy mới dừng lại ở tính phong trào. Câu hỏi đặt ra là: Ai sẽ là người đủ năng lực đứng lớp giảng dạy chuyên sâu về công nghiệp văn hóa? Giáo án thực tiễn ở đâu khi chúng ta còn đang phải đi mượn kinh nghiệm nước ngoài?”, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên nói.

Từ thực tiễn quản lý, TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa, khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho rằng, công nghiệp văn hóa đòi hỏi đội ngũ nhân lực không chỉ am hiểu di sản mà còn phải có kiến thức liên ngành về quản trị, công nghệ, truyền thông, thiết kế và thị trường. Các thiết chế văn hóa cũng cần chuyển từ mô hình quản lý đơn thuần sang quản trị di sản hiện đại, lấy công chúng làm trung tâm. Để biến tiềm năng thành các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư, tạo điều kiện để các đơn vị quản lý di tích chủ động hơn trong liên kết với doanh nghiệp và các chuyên gia.

Nút thắt nhân lực càng lộ rõ khi đặt trong bài toán “quản trị liên ngành”. Công nghiệp văn hóa liên quan đồng thời đến văn hóa, du lịch, quy hoạch, tài chính, khoa học, công nghệ. Nhưng hiện tại, khi các sở, ngành vẫn vận hành theo cách riêng lẻ, thiếu hệ thống dữ liệu số và chỉ tiêu đo lường thống nhất, các dự án sáng tạo sẽ liên tục bị kéo dài do thủ tục. Cộng thêm thách thức mới từ sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi căn bản cuộc chơi, nếu nguồn nhân lực quản trị không được đào tạo lại và hệ thống bảo hộ bản quyền tiếp tục lỏng lẻo, động lực đầu tư sáng tạo sẽ bị triệt tiêu.

Hà Nội sở hữu kho tàng chất liệu di sản, văn hóa bản địa đồ sộ. Tuy nhiên, chừng nào những điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực và phương thức quản trị chưa được tháo gỡ đồng bộ, thì “mỏ vàng” công nghiệp văn hóa vẫn khó chuyển hóa trọn vẹn thành nguồn lực tăng trưởng mới, tương xứng với tiềm năng và vị thế của một Thành phố Sáng tạo.

(Còn nữa)

Nhóm phóng viên

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ