🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Kinh nghiệm vượt qua 100 ngày khủng hoảng eo biển Hormuz của Ấn Độ

4 giờ trước
Điểm thành công lớn nhất trong cách Chính phủ Liên bang Ấn Độ xử lý khủng hoảng là quyết định không để người dân phải gánh chịu đợt tăng giá dầu thô.

Điểm thành công lớn nhất trong cách Chính phủ Liên bang Ấn Độ xử lý khủng hoảng là quyết định không để người dân phải gánh chịu đợt tăng giá dầu thô. (Ảnh minh họa)

Khi eo biển Hormuz đóng cửa vào ngày 28/2/2026, Ấn Độ phải đối mặt với cú sốc nguồn cung năng lượng nghiêm trọng nhất từ trước đến nay. Ngoại trừ tình trạng xếp hàng lẻ tẻ tại các cây xăng và điểm phân phối LPG trong những ngày đầu, hệ thống bán lẻ nhiên liệu vẫn hoạt động bình thường và người dân hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự gián đoạn nguồn cung toàn cầu.

Trong khi một số nước láng giềng áp dụng phân phối nhiên liệu theo định mức và khuyến khích làm việc tại nhà để ứng phó, Ấn Độ lựa chọn cách tiếp cận đa hướng, thể hiện năng lực của một nền kinh tế lớn trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia.

Cách tiếp cận này bao gồm nhiều biện pháp đồng thời: Đẩy mạnh ngoại giao, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm tại các nhà máy lọc dầu, triển khai Chiến dịch Sankalpa của Hải quân Ấn Độ để hộ tống tàu chở dầu qua Vùng Vịnh, đồng thời huy động chính quyền bang và các hiệp hội ngành phối hợp quản lý cung cầu.

Thách thức trước mắt mang tính cơ cấu: Gần một nửa lượng dầu thô nhập khẩu và hơn 90% lượng khí LPG của Ấn Độ đi qua eo biển Hormuz. Nếu eo biển đóng cửa vô thời hạn, các nhà máy lọc dầu sẽ thiếu nguyên liệu, LPG sẽ khan hiếm nghiêm trọng và toàn bộ chuỗi cung ứng có nguy cơ đứt gãy nếu không nhanh chóng tìm được nguồn thay thế. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp dầu khí nhà nước phải ra quyết định rất nhanh; những quyết định chiến lược vốn thường mất nhiều tháng đã được thông qua chỉ trong vài ngày.

Chỉ trong vài tuần, tỷ trọng dầu nhập khẩu từ các tuyến không đi qua Hormuz đã tăng từ 55% lên 70%. Để làm được điều này, Ấn Độ phải nhanh chóng đàm phán với các nhà cung cấp ở khu vực Đại Tây Dương, châu Mỹ, Tây Phi, Nga và các đối tác vùng Vịnh thông qua cả kênh thương mại, song phương và ngoại giao.

Thông qua Lệnh Kiểm soát LPG, Chính phủ yêu cầu các nhà máy lọc dầu tối đa hóa sản lượng LPG. Chỉ sau 5 ngày, sản lượng khí LPG nội địa tăng từ 35.000 tấn/ngày lên 54.000 tấn/ngày. Các nhà máy điều chỉnh cấu hình cracking và cơ cấu sản phẩm để thu thêm LPG từ mỗi thùng dầu thô, đồng thời phân bổ nguồn cung hợp lý giữa hộ gia đình và khách hàng thương mại.

Chính phủ cũng ban hành Lệnh Điều tiết Cung ứng Khí tự nhiên theo Luật Hàng hóa Thiết yếu, quy định rõ thứ tự ưu tiên sử dụng khí đốt. Người dân sử dụng khí qua đường ống và CNG được bảo đảm nguồn cung đầy đủ; nhu cầu của khu vực công nghiệp bị cắt giảm, còn các nhà máy phân bón phải chấp nhận hạn chế nhiều hơn. Nguyên tắc rất rõ ràng: Nhu cầu của hộ gia đình phải được bảo vệ tuyệt đối, còn những lĩnh vực có thể thay thế bằng nguồn năng lượng khác sẽ chịu điều chỉnh lớn hơn. Cách phân bổ theo mức độ ưu tiên này đã phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, thành công lớn nhất là không chuyển gánh nặng tăng giá dầu sang người tiêu dùng. Chính phủ giảm thuế tiêu thụ đặc biệt (chấp nhận giảm khoảng 1,7 nghìn tỷ rupee tiền thu ngân sách), điều chỉnh thuế xuất khẩu và để các doanh nghiệp dầu khí nhà nước gánh phần lớn khoản lỗ do bán dưới giá vốn. Nhờ đó, người dân hầu như không phải chịu cú sốc giá.

Trong khi giá xăng bán lẻ ở nhiều nước láng giềng tăng mạnh, mức tăng tại Ấn Độ vẫn được giữ ở một chữ số. Đối với dầu diesel, ngay cả UAE - một nước khai thác dầu - cũng chứng kiến giá bán lẻ tăng 85%, trong khi tại Ấn Độ chỉ tăng 8% trong cùng giai đoạn. Chính sách bình ổn giá này không chỉ bảo vệ người dân mà còn góp phần kiểm soát lạm phát trong trung hạn.

Khía cạnh ngoại giao và sự phối hợp giữa Bộ Ngoại giao với Bộ Dầu khí và Khí tự nhiên cũng rất đáng chú ý. Các cuộc trao đổi trực tiếp ở cấp lãnh đạo với các nước vùng Vịnh đã giúp tàu mang cờ Ấn Độ tiếp tục được phép đi qua eo biển Hormuz. Hoạt động ngoại giao được kết hợp chặt chẽ với công tác hậu cần trên phạm vi toàn cầu: Thuê tàu, xác nhận lô hàng, xử lý chi phí bảo hiểm tăng cao, ứng phó với biến động giá và điều chỉnh lại các hợp đồng cung ứng.

Mỗi cuộc khủng hoảng đều mang đến bài học. Theo chuyên gia Vivek Kumar, Ấn Độ cần đa dạng hóa nguồn cung dầu khí bằng cách mở rộng sang châu Mỹ và Tây Phi; nâng cấp hạ tầng cảng để tiếp nhận tàu chở dầu siêu lớn (VLCC) nhằm giảm chi phí vận chuyển; từng bước giảm phụ thuộc vào dầu khí vận chuyển bằng đường biển; đẩy nhanh đầu tư vào thăm dò và khai thác trong nước, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân; đồng thời tăng cường dự trữ dầu chiến lược bằng cách thúc đẩy phát triển các kho dự trữ tại Padur và Chandikhol.

Nh.Thạch

AFP

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ