Khơi thông thị trường vốn, tạo nền tảng tăng trưởng bứt phá

Quang cảnh Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn”. Ảnh: T.Thiện
Áp lực tái cân bằng các kênh dẫn vốn
Tại Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7, các chuyên gia cho biết, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần một lượng vốn đầu tư chưa từng có. Theo ước tính, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026-2030 lên tới khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực tư nhân phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 65% tổng nhu cầu vốn. Con số này cho thấy bài toán đặt ra không đơn thuần là huy động thêm nguồn lực mà còn là xây dựng được một hệ thống dẫn vốn bền vững cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn vào cấu trúc của hệ thống tài chính hiện nay có thể thấy nguồn vốn vẫn đang phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng.
Theo bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 13/7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ trong hơn nửa đầu năm 2026, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những dự án trọng điểm, góp phần quan trọng vào kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm.
Song, đằng sau những con số tích cực đó là áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng khi phải tiếp tục đóng vai trò là nguồn cung vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã ở mức khoảng 145% vào năm 2025 - một tỷ lệ khá cao so với nhiều nền kinh tế trong khu vực. Trong khi đó, nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và các công trình trọng điểm chủ yếu là vốn trung và dài hạn, còn nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng lại chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Sự chênh lệch về kỳ hạn này không chỉ tạo áp lực thanh khoản mà còn làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống tài chính.
Ở góc độ nghiên cứu, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia - cũng nhấn mạnh cho rằng đây là biểu hiện của một cấu trúc tài chính chưa thực sự cân bằng. Theo ông Lực, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới giới hạn về khả năng mở rộng thì các kênh dẫn vốn khác như thị trường cổ phiếu, trái phiếu hay các quỹ đầu tư vẫn còn nhiều dư địa phát triển nhưng chưa phát huy tương xứng với tiềm năng. Điều đó khiến gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn vẫn chủ yếu dồn lên hệ thống ngân hàng - điều vốn không phù hợp với chức năng của kênh tín dụng trong nền kinh tế.
Phân tích thêm về thị trường chứng khoán, ông Lực cho biết, thị trường chứng khoán hiện vẫn đối mặt với một số hạn chế, như: dòng tiền và vốn hóa còn tập trung vào một số ngành và doanh nghiệp lớn; tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao khiến thị trường dễ chịu tác động bởi tâm lý đám đông; mức độ minh bạch và tính chuyên nghiệp chưa đồng đều; cơ cấu sản phẩm cũng như hệ thống các nhà đầu tư tổ chức vẫn chưa đa dạng.
Đáng chú ý, dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán đã tăng hơn 3,5 lần chỉ trong hơn 3 năm, từ mức khoảng 125.000 tỷ đồng cuối quý I/2023 lên khoảng 445.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026. Theo vị chuyên gia, việc sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng lớn có thể làm gia tăng rủi ro khi thị trường xuất hiện những biến động mạnh.
Không chỉ vậy, thị trường tài chính còn phải đối mặt với nhiều thách thức mới như rủi ro an ninh mạng, an toàn dữ liệu, tội phạm tài chính; trong khi hệ thống xếp hạng tín nhiệm, cơ sở dữ liệu tài chính và hạ tầng công nghệ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển của một thị trường vốn hiện đại.
Từ thực tế trên, các chuyên gia cho rằng phát triển đồng bộ thị trường vốn không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng mà còn là điều kiện để tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng và bền vững hơn, đáp ứng khả năng cung ứng vốn lớn cho nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Hữu Thắng
Tìm lời giải phát triển thị trường vốn bền vững
Tìm lời giải cho bài toán phát triển thị trường vốn bền vững, TS. Cấn Văn Lực cho rằng phát triển thị trường vốn không thể chỉ dừng ở việc mở rộng quy mô, điều quan trọng hơn là xây dựng được một thị trường minh bạch, vận hành theo chuẩn mực quốc tế và đủ sức dẫn dắt dòng vốn trung, dài hạn vào nền kinh tế. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng ổn định, minh bạch và tiệm cận thông lệ quốc tế. Theo ông Lực, nhiều loại hình tài sản, sản phẩm tài chính mới vẫn chưa có hành lang pháp lý đầy đủ; trong khi cơ chế giám sát cần được đổi mới theo hướng dựa trên rủi ro và ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu, công nghệ thay cho phương thức quản lý truyền thống.
Quan điểm này cũng được ông Hà Duy Tùng - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đồng tình khi cho rằng việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp không chỉ mang ý nghĩa thu hút thêm dòng vốn quốc tế mà còn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cải cách toàn diện thị trường. Theo ông Tùng, để duy trì vị thế mới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao dịch, nâng cao chất lượng công bố thông tin, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho dòng vốn nước ngoài tham gia thị trường. Đặc biệt, quá trình nâng hạng cũng đồng thời là động lực để cơ quan quản lý chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, từng bước xây dựng thị trường chứng khoán hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, theo TS. Cấn Văn Lực, thị trường tài chính Việt Nam hiện vẫn thiếu những nhà đầu tư tổ chức dài hạn đủ lớn để tạo sự ổn định cho thị trường. Vì vậy, cần thúc đẩy phát triển các quỹ hưu trí bổ sung, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các định chế tài chính phi ngân hàng. Đồng thời, cần mở rộng các sản phẩm tài chính mới như tài chính xanh, tài chính số, tín chỉ carbon và từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý đối với tài sản số theo lộ trình phù hợp.
“Khi cơ cấu nhà đầu tư trở nên đa dạng hơn và các sản phẩm tài chính ngày càng phong phú, thị trường vốn sẽ có khả năng hấp thụ tốt hơn nguồn vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm tình trạng phụ thuộc quá lớn vào dòng tiền ngắn hạn của nhà đầu tư cá nhân” - ông Lực nhấn mạnh.
Một vấn đề nữa cũng được nhiều đại biểu quan tâm là phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh như một mắt xích mới trong hệ thống dẫn vốn của nền kinh tế.
PGS,TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, lợi thế lớn nhất của Việt Nam là nền kinh tế đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nhu cầu rất lớn về vốn cho phát triển hạ tầng, sản xuất, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là điều kiện để thu hút các dòng vốn quốc tế nếu có cơ chế kết nối phù hợp.
Theo ông Huân, Trung tâm Tài chính quốc tế không nên chỉ được nhìn nhận như nơi tập trung các định chế tài chính, mà quan trọng hơn phải trở thành đầu mối kết nối giữa các quỹ đầu tư toàn cầu với nhu cầu vốn của doanh nghiệp và các dự án trong nước. Muốn làm được điều đó, các dự án phải được chuẩn hóa về hồ sơ, minh bạch thông tin, có phương án tài chính rõ ràng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị cũng như quản lý rủi ro.
Vị chuyên gia cũng lưu ý, trong giai đoạn đầu, Việt Nam không nên đặt mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với các trung tâm tài chính hàng đầu trong khu vực mà cần lựa chọn những phân khúc phù hợp với lợi thế của mình như tài chính xanh, công nghệ tài chính, quản lý quỹ, đổi mới sáng tạo hay tài chính phục vụ kinh tế biển và logistics. Đây đều là những lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng lớn và phù hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới./.
TRẦN THIỆN
41 phút trước
4 giờ trước
5 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
11 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước