Khối ngoại bán ròng gần 14.000 tỷ trong tháng 4 khi FTSE Russell xác nhận nâng hạng

Ảnh minh họa.
VN-Index khép lại tháng 4/2026 tại 1.854,10 điểm, tăng mạnh 179,61 điểm (+10,73%), qua đó phục hồi đáng kể sau nhịp điều chỉnh sâu trong tháng 3 trước đó khi chỉ số giảm 205,8 điểm, tương đương -10,95%. Tuy nhiên, thanh khoản sụt giảm mạnh cho thấy đà tăng này vẫn thiếu sự xác nhận rõ ràng từ dòng tiền.
Giá trị giao dịch khớp lệnh bình quân trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) đạt 20.460 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh 25,21% so với tháng trước và thấp hơn 20,90% so với mức trung bình 5 tháng. Trên toàn thị trường, tổng giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 26.237 tỷ đồng, trong đó giá trị khớp lệnh đạt 22.160 tỷ đồng, giảm lần lượt 27,11% so với tháng 3 và 19,27% so với mức trung bình 5 tháng.
Đáng chú ý, dù thị trường bước vào mùa công bố kết quả kinh doanh với nhiều doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận tích cực trên diện rộng, dòng tiền vẫn chưa quay trở lại tương xứng. Điều này cho thấy nhịp phục hồi của VN-Index mang tính tập trung cao, chủ yếu được dẫn dắt bởi nhóm cổ phiếu họ Vin gồm VIC và VHM, thay vì phản ánh sự cải thiện đồng thuận trên toàn thị trường.
Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 13.755,4 tỷ đồng, trong đó riêng giao dịch khớp lệnh ghi nhận mức bán ròng 7.379,4 tỷ đồng. Hoạt động mua ròng khớp lệnh của khối ngoại tập trung ở nhóm tài nguyên cơ bản và dịch vụ tài chính, với các mã nổi bật gồm HPG, VIC, MSN, FUEVFVND, SSI, VRE, LPB, TCH, MWG, DXG. Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng chịu áp lực bán ròng mạnh nhất, với các mã gồm FPT, VHM, VCB, BID, ACB, VPB, MBB, BSR, CTG.
Nhà đầu tư cá nhân mua ròng 9.179,1 tỷ đồng, trong đó mua ròng qua khớp lệnh đạt 7.422,4 tỷ đồng. Tính riêng giao dịch khớp lệnh, nhóm này mua ròng tại 10/18 ngành, chủ yếu tập trung vào nhóm ngân hàng. Các mã được mua ròng mạnh gồm HCM, SHB, FPT, VHM, VCB, MBB, STB, BSR, BID, VPB. Ngược lại, họ bán ròng tại 8/18 ngành, chủ yếu ở nhóm tài nguyên cơ bản, thực phẩm và đồ uống, với các mã như MSN, GEL, HPG, SSI, VPI, VIC, GMD, VCK, DXG.

Khối tự doanh mua ròng 9,1 tỷ đồng, trong đó riêng khớp lệnh mua ròng 728,7 tỷ đồng. Tự doanh mua ròng tại 11/18 ngành, mạnh nhất ở nhóm công nghệ thông tin và bất động sản. Các mã được mua ròng nhiều gồm KBC, FPT, SHB, MSN, MBB, VPX, VHM, KDH, MWG, HPG. Trong khi đó, nhóm dịch vụ tài chính bị bán ròng mạnh nhất với các mã gồm FUEVFVND, VIC, STB, VRE, ACB, VSC, VIB, PNJ, VIX, VCB.
Nhà đầu tư tổ chức trong nước mua ròng 4.567,2 tỷ đồng, nhưng nếu chỉ tính giao dịch khớp lệnh thì bán ròng 771,8 tỷ đồng. Tính riêng khớp lệnh, nhóm này bán ròng tại 7/18 ngành, mạnh nhất ở nhóm dịch vụ tài chính. Các mã bị bán ròng nhiều gồm HCM, SHB, HPG, VIC, GEX, KBC, TCB, MWG, LPB, VPL. Trong khi đó, nhóm công nghệ thông tin ghi nhận giá trị mua ròng lớn nhất với các mã như FPT, VHM, VCB, ACB, HDB, BID, GEL, VPI, VPB, VSC.
Về xu hướng dòng tiền, tháng 4/2026 cho thấy sự tái tập trung vào các nhóm cổ phiếu trụ và một số ngành dẫn dắt, với mức độ phân hóa rất rõ. Nhóm bất động sản đóng vai trò dẫn dắt chính khi tỷ trọng dòng tiền tăng lên khoảng 19,3% trong tháng 4 từ mức 12,3% của tháng 3, đồng thời giá tăng mạnh 39,1% so với tháng trước, chủ yếu nhờ VIC và VHM.
Nhóm ngân hàng cũng duy trì tỷ trọng cao khoảng 23,6%, tăng mạnh từ vùng đáy 10 tháng trong tháng 3 (-20,7%), nhưng mức tăng giá chỉ đạt 2,7%, cho thấy vai trò chủ yếu là giữ nhịp thay vì tạo động lực tăng mạnh.
Trong khi đó, nhóm chứng khoán có dấu hiệu suy yếu khi tỷ trọng dòng tiền giảm nhẹ xuống khoảng 13,4% từ mức 14,5%, trong khi giá gần như đi ngang ở mức tăng 0,5%, phản ánh dòng tiền chưa thực sự quay lại nhóm cổ phiếu có hệ số beta cao này.
Ngược lại, một số ngành ghi nhận tỷ trọng dòng tiền giảm từ đỉnh 10 tháng, đi kèm với diễn biến giá suy yếu, bao gồm dầu khí, vật liệu xây dựng, hóa chất, khai khoáng và điện. Điều này cho thấy tương quan giữa dòng tiền và biến động giá giữa các nhóm ngành vẫn thiếu sự đồng thuận, hàm ý nhịp phục hồi hiện tại mang tính chọn lọc hơn là xu hướng tăng lan tỏa trên diện rộng.
Xét theo nhóm vốn hóa, dòng tiền tiếp tục duy trì ở nhóm vốn hóa lớn VN30 và gia tăng tại nhóm vốn hóa vừa VNMID. Cụ thể, VN30 chiếm 53,8% tổng GTGD, tăng nhẹ từ mức 53,1% của tháng 3; VNMID tăng lên 38,3%; trong khi VNSML giảm xuống còn 4,7%.
Về diễn biến giá, sự phân hóa tiếp tục thể hiện rõ khi VN30 tăng mạnh 10,56%, trong khi VNMID gần như đi ngang (-0,05%) và VNSML giảm 1,08%, cho thấy nhịp phục hồi của thị trường chủ yếu vẫn được dẫn dắt bởi nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn.
Thanh khoản bình quân giảm sâu trên diện rộng, với giá trị giao dịch của VN30 giảm 24,2% (tương ứng giảm 3.514,5 tỷ đồng), VNMID giảm 23,2% (giảm 2.374,5 tỷ đồng) và VNSML giảm mạnh nhất 37,5% (giảm 580,0 tỷ đồng). Diễn biến này cho thấy dù chỉ số tăng mạnh, dòng tiền vẫn có xu hướng co cụm vào nhóm dẫn dắt, trong khi mức độ tham gia tại phần còn lại của thị trường suy yếu đáng kể.
Thu Minh
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
9 giờ trước
12 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước