Khoa học công nghệ – động lực then chốt tái cấu trúc ngành thủy sản Việt Nam

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là nền tảng, đồng thời là động lực thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn ngành. Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026 do Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Hội Thủy sản Việt Nam tổ chức ngày 28/4, tại TP. Hồ Chí Minh.
*Tăng trưởng đi cùng áp lực
Thủy sản tiếp tục là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu và tạo sinh kế cho hàng triệu lao động tại khu vực ven biển và nông thôn. Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin.
Giai đoạn 2021-2025, cơ cấu sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng.Tính đến cuối năm 2025, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt gần 10 triệu tấn; trong đó nuôi trồng đạt hơn 6,1 triệu tấn, tiếp tục là động lực tăng trưởng chính; trong khi sản lượng khai thác duy trì ở mức 3,8 – 3,9 triệu tấn, giảm nhẹ bình quân 0,9%/năm, thể hiện nỗ lực kiểm soát cường lực khai thác và bảo vệ nguồn lợi, dù chưa đạt mục tiêu giảm sâu theo.
Công nghiệp chế biến thủy sản tiếp tục mở rộng, nhiều doanh nghiệp lớn đã đầu tư công nghệ hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt trên 11,3 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới.
Ngành thủy sản đang chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và từng bước nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, áp lực về thị trường, môi trường và phát triển bền vững vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Lụa, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho rằng, đằng sau những con số tích cực của tăng trưởng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu là hàng loạt thách thức mang tính dài hạn.Theo đó, ngành thủy sản đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng nước biển dâng, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Những yếu tố này đòi hỏi phải có công nghệ giống thích ứng và hệ thống nuôi an toàn, ổn định.
Bên cạnh đó, các rào cản thương mại ngày càng khắt khe, đặc biệt là yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) buộc ngành phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và giám sát. Đồng thời, áp lực bảo vệ môi trường và giảm phát thải cũng khiến ngành phải chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Những năm qua, khoa học công nghệ đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành thủy sản, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu. Dù vậy, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế. Tiến sĩ Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ ra, một trong những “điểm nghẽn” là công tác chọn tạo giống và thị trường giống phát triển chậm. Nguồn giống thủy sản còn phụ thuộc vào nhập khẩu, trong khi nghiên cứu giống chất lượng cao chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Thực tế khoảng 50% giống cá tra và tôm sú hiện chưa được kiểm soát chất lượng.

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin tổng quan ngành thủy sản tại hội nghị. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Liên quan đến thị trường khoa học công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Văn Long cho rằng, số lượng sản phẩm khoa học công nghệ được thương mại hóa còn ít, trong khi hệ thống dịch vụ hỗ trợ như tư vấn, chuyển giao công nghệ, sàn giao dịch công nghệ vẫn còn thiếu và yếu. Xu hướng nhập khẩu công nghệ trọn gói từ nước ngoài vẫn chiếm ưu thế, trong khi việc hợp tác với các đơn vị nghiên cứu trong nước chưa được thúc đẩy mạnh. Hệ thống logistics cho thủy sản còn nhỏ lẻ, manh mún; thiếu các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp và hạ tầng số. Điều này khiến việc lan tỏa công nghệ hiện đại đến doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và nông hộ gặp nhiều khó khăn.
“Trong lĩnh vực chế biến, trình độ công nghệ của Việt Nam hiện ở mức trung bình đến trung bình khá, với hệ số đổi mới thiết bị chỉ khoảng 7% mỗi năm. Dù một số doanh nghiệp lớn đã đầu tư công nghệ hiện đại đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính, phần lớn cơ sở chế biến vẫn sử dụng dây chuyền cũ, tiêu hao nhiều nguyên liệu và năng lượng”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Long nêu thực tế.
*Cần chuyển đổi đồng bộ và toàn diện
Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: đưa thủy sản trở thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Để thực hiện mục tiêu này, ông Trần Đình Luân cho biết, giải pháp trọng tâm là chuyển từ sản xuất sang kinh tế, từ đơn giá trị sang đa giá trị; đẩy mạnh nuôi biển, giảm khai thác, minh bạch nguồn gốc, mở rộng bảo tồn biển. Ngành thủy sản cũng tập trung tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc, quản lý tàu cá; phát triển hạ tầng, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, tăng cường bảo vệ nguồn lợi, kiểm soát khai thác trái phép và thúc đẩy các mô hình nuôi bền vững.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Lụa cho rằng, việc định hình các hướng đi chiến lược về khoa học công nghệ trở nên cấp thiết đối với ngành thủy sản, ở cả mảng nuôi trồng và chế biến. Trong đó công nghệ sinh học và di truyền thế hệ mới là trụ cột quan trọng. Việt Nam cần từng bước làm chủ nguồn giống, tiến tới thay thế khoảng 80% giống bố mẹ nhập khẩu bằng các dòng nội địa có năng suất cao, thích ứng tốt với điều kiện môi trường. Song song đó là phát triển vaccine thế hệ mới và chế phẩm sinh học, chuyển từ mô hình kiểm soát bệnh bằng kháng sinh sang quản lý sức khỏe tổng thể.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Phát triển công nghệ thức ăn và dinh dưỡng thông minh cũng là lời giải cho vấn đề giá thành và cạnh tranh. Với chi phí thức ăn hiện chiếm tới 60–70% giá thành sản xuất, việc ứng dụng công nghệ mới được kỳ vọng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí, đồng thời giảm tác động môi trường. Các giải pháp như sử dụng protein từ côn trùng, kết hợp trí tuệ nhân tạo trong quản lý cho ăn có thể giúp giảm từ 15 đến 20% giá thành và giảm lượng chất thải ra môi trường.
Trong lĩnh vực nuôi biển, yêu cầu chuyển dịch từ ven bờ ra xa bờ đòi hỏi thay đổi căn bản về hạ tầng. Định hướng đến năm 2030 thay thế hoàn toàn lồng bè gỗ bằng vật liệu hiện đại như nhựa mật độ cao hoặc composite, có khả năng chịu điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Đồng thời, việc ứng dụng robot và thiết bị lặn không người lái sẽ giúp giảm rủi ro cho người lao động và nâng cao hiệu quả vận hành.
Chuyển đổi số được xác định là xu thế không thể đảo ngược. Các chuyên gia cho rằng cần xây dựng hệ thống dữ liệu lớn ngành thủy sản, tiến tới số hóa toàn bộ hoạt động khai thác và nuôi trồng. Việc áp dụng công nghệ chuỗi khối trong truy xuất nguồn gốc sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Ở khâu chế biến, chiến lược phát triển được xác định là chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng. Việc tận dụng phụ phẩm để sản xuất các sản phẩm có giá trị cao như collagen, chitosan hay axit béo omega-3 không chỉ giúp tăng hiệu quả kinh tế mà còn góp phần phát triển kinh tế tuần hoàn.
Đáng chú ý, công nghệ xanh và các mô hình nuôi thích ứng biến đổi khí hậu đang trở thành xu hướng chủ đạo. Các hệ thống nuôi tuần hoàn, công nghệ biofloc có thể giúp giảm đáng kể lượng nước sử dụng, tiến tới xả thải bằng không và tiết kiệm chi phí sản xuất. Đồng thời, việc sử dụng năng lượng tái tạo cũng được đặt mục tiêu thay thế từ 20 đến 30% năng lượng truyền thống.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Long cho biết ngành sẽ tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ chọn tạo giống sạch bệnh cho các đối tượng chủ lực; phát triển công nghệ nuôi tiên tiến; giảm sử dụng kháng sinh; đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu vaccine chế phẩm sinh học và công nghệ chế biến hiện đại. Việc xây dựng các mô hình thủy sản thông minh, mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ là hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả và tính bền vững.
“Để giải quyết các điểm yếu trong quá trình ứng dụng khoa học công nghệ, cần sự vào cuộc đồng bộ của 3 nhà: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp. Khi Nhà nước đã có chiến lược rõ ràng, doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu thực tế của thị trường và đặt hàng, nhà khoa học sẽ tập trung nghiên cứu đề tài, giải pháp có tính ứng dụng cao”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Long nêu góc nhìn.
Khi các “nút thắt” về giống, công nghệ, hạ tầng và thị trường được tháo gỡ, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm hàng đầu thế giới vào năm 2045./.
Xuân Anh/vnanet.vn
11 giờ trước
4 ngày trước
5 ngày trước
7 ngày trước
18 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
20 ngày trước
20 ngày trước
3 phút trước
1 giờ trước
3 phút trước
4 phút trước
14 phút trước
16 phút trước
18 phút trước
20 phút trước
21 phút trước
57 phút trước
59 phút trước