🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Khâu thực thi sẽ quyết định thành công của Nghị quyết 10

10 giờ trước
Theo GS. TSKH. NGUYỄN MẠI, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đưa ra những định hướng rất đúng và rất trúng. Nếu thực thi tốt, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở trở thành điểm đến hàng đầu của dòng vốn đầu tư chất lượng cao trong khu vực.

Cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt

- Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài?

- Đây là Nghị quyết rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Điểm mới là chuyển từ thu hút đầu tư theo chiều rộng sang chú trọng chất lượng, ưu tiên các dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại và thân thiện với môi trường. Những định hướng này đã được cụ thể hóa trong Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 - 2030.

Nhìn lại gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, khu vực này đã đóng góp rất lớn cho quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Không chỉ bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, khu vực đầu tư nước ngoài còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời, quá trình hoàn thiện pháp luật đầu tư và mở rộng quyền kinh doanh cũng góp phần hình thành môi trường đầu tư ngày càng cởi mở, hấp dẫn.

Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã khác trước. Quy mô nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD; năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực đều được cải thiện đáng kể. Vì vậy, chúng ta cần một tư duy mới về đầu tư nước ngoài, không chỉ nhằm tăng vốn mà còn phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Tôi cho rằng Nghị quyết 10 ra đời đúng thời điểm, tạo cơ sở chính trị quan trọng để Quốc hội, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư và xây dựng mô hình hợp tác đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

- Ông nghĩ sao về các mục tiêu Nghị quyết đặt ra như: đến năm 2030 thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh; 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển; tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50%...?

- Những mục tiêu này thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài để góp phần vào mục tiêu tăng trưởng.

Thời gian qua, chúng ta đã có bước tiến đáng kể trong hoàn thiện thể chế. Nhiều quy định pháp luật được sửa đổi theo hướng thông thoáng hơn, phù hợp hơn với các mô hình kinh doanh mới và xu thế phát triển của kinh tế số, kinh tế xanh. Nhiều chủ trương lớn của Đảng được cụ thể hóa rất nhanh.

Tuy nhiên, cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay rất gay gắt. Các quốc gia liên tục điều chỉnh chính sách để thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh tế quốc tế, và xu hướng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại trong nước. Đặc biệt, các nước đều đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao sức hấp dẫn đối với dòng vốn quốc tế, đặc biệt từ các nền kinh tế lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước thuộc OECD.

Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống chính sách trong nước, Việt Nam cần thường xuyên theo dõi những thay đổi về thể chế, chính sách của các quốc gia cạnh tranh trong thu hút đầu tư để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Ít nhất, chúng ta phải tạo dựng được môi trường đầu tư có sức cạnh tranh tương đương với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nếu chậm cải cách hoặc kém hấp dẫn hơn các đối thủ, dòng vốn đầu tư và hoạt động thương mại quốc tế sẽ có xu hướng dịch chuyển sang những thị trường khác.

Sức hấp dẫn đầu tư nằm ở khâu thực thi

- Nhiều năm làm việc với cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài, theo ông đâu là những vấn đề các nhà đầu tư quốc tế còn băn khoăn khi lựa chọn Việt Nam?

- Hiện nay, nhà đầu tư đánh giá rất cao quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn ba vấn đề lớn.

Thứ nhất là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các dự án công nghệ cao, đây là yếu tố có ý nghĩa sống còn. Nhà đầu tư chỉ sẵn sàng đưa công nghệ lõi, công nghệ tiên tiến vào Việt Nam khi họ tin tưởng quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ hiệu quả. Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đề cập rất rõ nội dung này khi xác định “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài”, vấn đề còn lại là thực thi.

Thứ hai là khả năng phản ứng chính sách. Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Chỉ một biến động về giá năng lượng, xung đột địa chính trị hay thay đổi chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn cũng có thể tác động ngay đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, cơ chế điều hành phải đủ linh hoạt để kịp thời tháo gỡ khó khăn và tạo sự ổn định cho nhà đầu tư.

Thứ ba, và cũng là vấn đề được nhắc đến nhiều nhất, là khâu thực thi. Luật pháp có thể rất tốt nhưng nếu quá trình thực hiện ở cơ sở còn chậm, còn phát sinh thủ tục không cần thiết hoặc tình trạng nhũng nhiễu thì môi trường đầu tư sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm sai phạm và đồng thời có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

- Theo ông, đâu là yếu tố then chốt để Nghị quyết 10 đi vào cuộc sống và đạt được các mục tiêu đề ra?

- Theo tôi, yếu tố then chốt để Nghị quyết 10 đi vào cuộc sống và đạt được các mục tiêu đề ra nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Chúng ta đã có chủ trương đúng, định hướng rõ và mục tiêu cụ thể, nhưng kết quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng của bộ máy và đội ngũ cán bộ thực thi.

Chúng ta đang thực hiện mạnh mẽ việc sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và xây dựng chính quyền số. Đây là những bước đi rất đúng. Tuy nhiên, bộ máy tinh gọn phải đi cùng đội ngũ cán bộ có năng lực, trách nhiệm và đạo đức công vụ. Cần xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu; nơi nào để xảy ra trì trệ, gây khó khăn cho doanh nghiệp thì phải chịu trách nhiệm.

Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nền hành chính phục vụ, trong đó người dân và doanh nghiệp được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Muốn vậy phải đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm tiếp xúc trực tiếp, minh bạch hóa quy trình xử lý hồ sơ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức.

- Xin cảm ơn ông!

Đan Thanh thực hiện

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ