🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Tư duy mới về vốn đầu tư nước ngoài

5 giờ trước
Sau 40 năm mở cửa, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế nước ta.

Tuy nhiên, những hạn chế về liên kết với doanh nghiệp trong nước, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, khả năng hấp thụ công nghệ chưa như kỳ vọng... cho thấy Việt Nam cần một cách tiếp cận mới trong việc phát triển khu vực này, nhất là khi chúng ta đang xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo...

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy: phát triển khu vực này phải gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và đóng góp cho tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước.

Theo đó, nếu trước đây trọng tâm là thu hút vốn, thì nay là thu hút các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi. Nếu trước đây nhiều địa phương cạnh tranh bằng ưu đãi và quy mô dự án, thì nay yêu cầu đặt ra là thu hút đầu tư theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nếu trước đây số lượng dự án và quy mô vốn thường được xem là thước đo thành công, thì nay chất lượng công nghệ, hiệu quả kinh tế, khả năng lan tỏa và đóng góp vào năng lực cạnh tranh quốc gia mới là những tiêu chí quan trọng nhất.

Sự thay đổi này phản ánh nhận thức ngày càng rõ ràng rằng, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, điều quyết định vị thế của một quốc gia không phải là lượng vốn thu hút được, mà là khả năng chuyển hóa nguồn vốn đó thành tri thức, công nghệ, năng suất và sức mạnh nội sinh của nền kinh tế.

Từ góc độ này, điểm cốt lõi của Nghị quyết 10 nằm ở yêu cầu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phải tạo sự lan tỏa mạnh mẽ với kinh tế trong nước, khắc phục tình trạng doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Mục tiêu có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thực chất là nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam buộc phải cải thiện quản trị, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và từng bước làm chủ công nghệ mới. Quá trình đó sẽ tạo ra sức bật cho toàn bộ khu vực kinh tế trong nước.

Tương tự, định hướng tập trung thu hút dòng vốn vào các lĩnh vực công nghệ cốt lõi; ưu tiên các dự án mang lại công nghệ nền tảng và có khả năng kết nối Việt Nam với chuỗi cung ứng toàn cầu; yêu cầu chuyển giao công nghệ; hay cơ chế ưu đãi gắn với kết quả thực hiện cam kết… những đổi mới căn bản như vậy đều nhằm hiện thực hóa một quan điểm xuyên suốt Nghị quyết. Đó là, không lấy quy mô vốn hay số lượng dự án làm thước đo chủ yếu, mà coi chất lượng, hiệu quả, mức độ chuyển giao công nghệ và giá trị gia tăng tạo ra cho nền kinh tế là tiêu chí quan trọng nhất.

Đặc biệt, Nghị quyết khẳng định quan điểm “kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Theo đó, các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, thực hiện chuyển đổi xanh và sử dụng hiệu quả tài nguyên sẽ được ưu tiên hưởng cơ chế hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Ngược lại, những trường hợp vi phạm cam kết, gây ô nhiễm môi trường hoặc sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên sẽ bị tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm.

Nghị quyết 10 là một bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Điều quan trọng là những định hướng đúng đắn trong Nghị quyết này phải sớm được cụ thể hóa thành các chính sách đồng bộ và chương trình hành động hiệu quả. Đây sẽ là nền tảng để chúng ta xây dựng được một nền kinh tế có năng lực tự chủ cao hơn, làm chủ công nghệ tốt hơn, có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và có khả năng thích ứng tốt hơn trước những biến động của thế giới.

Hà Lan

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ