🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Khai thông dòng chảy đưa nghiên cứu của các nhà khoa học nữ ra thị trường

2 giờ trước
Chiếm gần 46% lực lượng nghiên cứu khoa học công nghệ, nhưng tỷ lệ công trình do nữ giới làm chủ nhiệm được thương mại hóa thành công lại chưa đầy 5%. Sự chênh lệch phi lý này cho thấy một lượng lớn chất xám của đội ngũ nữ trí thức bấy lâu nay vẫn đang bị nghẽn lại ở cửa ngõ thị trường. Khai thông nút thắt này là đòi hỏi cấp bách để chấm dứt tình trạng lãng phí tài năng và đưa nghiên cứu vào cuộc sống một cách thực chất.

Khai thông dòng chảy đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một cuộc cách mạng về cơ chế quản lý và minh bạch chính sách.

Nghiên cứu để cất ngăn kéo?

Tại một xưởng sản xuất nhỏ ở Hà Nội, những gói trà tía tô mang thương hiệu VN NETZERO thuộc hệ sinh thái GREENTECH của một doanh nghiệp spin-off bước ra từ Đại học Quốc gia, đang được đóng gói để chuẩn bị đưa ra thị trường. Sản phẩm này có hàm lượng khoa học cao, mang lý tưởng sống xanh, nhưng con đường đến tay người tiêu dùng lại trầy trật hơn dự kiến rất nhiều.

Tiến sĩ Bùi Thị Thanh Hương, người trực tiếp vận hành dự án, chia sẻ rằng dù sản phẩm đã đi vào cơ chế thử nghiệm Sandbox nhưng thực tế vẫn vấp phải nhiều rào cản hành chính. Khó khăn lớn nhất hiện nay là chi phí dịch vụ quá cao và thủ tục rườm rà tại Cổng thông tin khoa học quốc gia khi nhà khoa học muốn tiếp cận dữ liệu để tự minh chứng tính mới nhằm đăng ký bằng sáng chế. Việc phải tự bơi giữa ma trận thủ tục và chi phí đang làm quá tải những người vốn chỉ quen làm việc trong phòng thí nghiệm.

Sản phẩm trà tía tô VN NETZERO, sản phẩm khoa học ứng dụng tiện lợi cho sức khỏe của nhóm nghiên cứu Đại học Quốc gia.

Một câu chuyện khác cũng rất phổ biến trong giới nghiên cứu của các nhà khoa học nữ là các công trình về chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp hữu cơ như phân bón vi sinh, thuốc trừ sâu thảo mộc. Đây là mảng đề tài các nhà khoa học nữ tham gia rất đông nhờ sự tỉ mỉ và tính kiên nhẫn. Tuy nhiên, khi đưa sản phẩm ra thị trường, họ lập tức vấp phải rào cản nhận thức của người tiêu dùng và các đại lý phân phối lớn, những người vốn đã quen sử dụng các sản phẩm hóa học giá rẻ. Thị trường đánh đồng công nghệ sâu với sản phẩm thô sơ, khiến sản phẩm khoa học khó định giá đúng với giá trị thực tế.

Thêm vào đó, do các doanh nghiệp spin-off quá mỏng về kênh phân phối và yếu về kỹ năng thương mại, sản phẩm làm ra chỉ loanh quanh ở các hội trường, các buổi triển lãm nội bộ mà không thể chen chân vào thị trường.

Những câu chuyện thực tế này phơi bày một nghịch lý mang tính hệ thống đang tồn tại lâu nay. Các số liệu khảo sát định lượng gần đây của Hội Nữ trí thức Việt Nam cho thấy một thực tế đáng quan ngại khi tỷ lệ phụ nữ tham gia nghiên cứu khoa học tại Việt Nam chiếm tới gần 46% lực lượng lao động ngành khoa học công nghệ, nhưng tỷ lệ các đề tài, sáng chế do nữ giới làm chủ nhiệm được chuyển giao thương mại thành công lại chưa đầy 5%. Sự chênh lệch quá lớn này khẳng định chất xám của nữ trí thức đang bị nghẽn lại ngay tại cửa ngõ bước ra thị trường vì thiếu một hệ sinh thái thực thi đồng bộ ở cấp cơ sở.

Tỷ lệ phụ nữ tham gia nghiên cứu khoa học tại Việt Nam chiếm tới gần 46% lực lượng lao động ngành khoa học công nghệ, nhưng tỷ lệ các đề tài, sáng chế do nữ giới làm chủ nhiệm được chuyển giao thương mại thành công lại chưa đầy 5%.

Đâu là gốc rễ nguyên nhân?

Những khó khăn, nghịch lý và câu chuyện dòng chảy chất xám bị nghẽn lại nơi cửa ngõ thị trường nói trên cũng chính là tâm điểm được thảo luận sôi nổi tại buổi hội thảo khoa học do Hội Nữ trí thức Việt Nam vừa tổ chức. Không còn là những báo cáo thành tích chung chung, không khí hội thảo thẳng thắn ngay từ đầu khi các đại biểu cùng nhau bóc tách nguyên nhân vì sao các công trình nghiên cứu của nữ giới lại khó ra thị trường đến thế. Nhiều ý kiến chỉ rõ, câu chuyện này không đơn thuần nằm ở năng lực cá nhân của các nhà khoa học, mà là nút thắt từ cơ chế quản lý cho đến sự thiếu hụt của các tổ chức trung gian.

Ngay tại hội thảo, PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng thẳng thắn chỉ ra thực trạng từ khâu duyệt đề tài. Bà cho biết, đáng ra một nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường, nhưng đôi khi chúng ta chọn đề tài chỉ vì lý do thiếu tiền, dẫn đến tình trạng chia phần kinh phí, thậm chí có cả câu chuyện nhận đề tài dựa vào quen biết. Lối làm việc này khiến nguồn vốn bị xẻ nhỏ, không đầu tư đủ ngưỡng và thiếu hẳn giai đoạn sản xuất thử nghiệm. Khi không có quá trình chạy thử để hoàn thiện công nghệ, sản phẩm dù có đạt điểm xuất sắc trước hội đồng nghiệm thu trên giấy tờ vẫn chưa thể bán ra thị trường.

PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, phát biểu tại Hội thảo

Bên cạnh câu chuyện vốn, cơ chế đãi ngộ thiếu minh bạch cũng là vấn đề được các đại biểu thảo luận nhiều vì nó đang làm xói mòn động lực cống hiến của các nhà khoa học trẻ. PGS.TS Lê Thị Thúy, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Khoa học Công nghệ thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam, phản ánh về thực trạng bất công trong chuyển giao công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, đặc biệt là các công nghệ phục vụ môi trường khi thiếu cơ chế trích phần trăm thù lao xứng đáng cho cán bộ nghiên cứu.

Thậm chí, việc công nhận nguồn gốc công nghệ trên truyền thông cũng thiếu sòng phẳng. Có những công trình của Viện Hàn lâm chuyển giao đầy đủ giấy tờ, nhưng khi lên truyền hình, đơn vị tiếp nhận lại phủ nhận để khẳng định do lực lượng khác làm ra. Khi sự hy sinh không được bảo vệ bằng hợp đồng pháp lý rõ ràng, làm xong những giai đoạn khó khăn nhưng không được một đồng thù lao nào, áp lực cơm áo gạo tiền sẽ trực tiếp đẩy các cán bộ khoa học trẻ không muốn dấn thân với nghề.

Ở góc độ trung gian, Ths. Lê Thị Khánh Vân, nguyên phó Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và công nghệ, cũng mang đến hội thảo những phân tích rất thực tế. Bà khẳng định điểm yếu lớn nhất hiện nay là các tổ chức hỗ trợ và kết nối chưa làm tròn vai trò là "bà đỡ" cho các nhà khoa học nữ. Chúng ta đang thiếu các tổ chức đánh giá giá trị công nghệ độc lập và thiếu một mạng lưới kết nối cung - cầu đủ mạnh. Khi cơ chế đãi ngộ chưa minh bạch và các tổ chức kết nối còn mang nặng tính hành chính, nhà khoa học nữ phải tự mình đi gõ cửa từng doanh nghiệp, tự lo thủ tục pháp lý và tự gánh chịu rủi ro thị trường. Điều này giải thích vì sao phần lớn họ chọn giải pháp an toàn là cất công trình vào ngăn kéo sau khi nghiệm thu.

Điểm yếu lớn nhất hiện nay là các tổ chức hỗ trợ và kết nối chưa làm tròn vai trò là "bà đỡ" cho các nhà khoa học nữ.

Cụ thể hóa chính sách bằng một hệ sinh thái thực chất

Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 20-NQ/TW vừa được ban hành mới đây chính là câu trả lời kịp thời, nhằm giải quyết tận gốc những nút thắt và vướng mắc nội tại mà các đại biểu đã thẳng thắn chỉ ra tại Hội thảo. Sự ra đời của các văn kiện chiến lược này mang tính thời sự mạnh mẽ, bởi nó chuyển dịch tư duy quản lý hành chính sang tư duy lấy hiệu quả đầu ra làm thước đo, lấy doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm.

Điểm đổi mới mang tính đột phá và có ý nghĩa cởi trói lớn nhất đối với các nhà khoa học, trong đó có các nhà khoa học nữ chính là hành lang pháp lý cho phép chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, đồng thời khuyến khích hình thành các doanh nghiệp spin-off ngay trong các viện, trường. Khi chính sách mới đã mở đường, dám đối diện và chia sẻ rủi ro, câu chuyện còn lại nằm ở cấp thực thi. Chúng ta cần những hành động cụ thể để biến các chủ trương vừa ban hành thành một bệ đỡ thực chất, đưa chất xám của các nhà khoa học nữ ra khỏi ngăn kéo.

Theo các chuyên gia, để đưa các chủ trương lớn này đi nhanh vào cuộc sống, cấp thực thi cần cụ thể hóa bằng ba giải pháp đồng bộ sau đây.

Trước hết, tư duy quản lý phải chuyển từ cơ chế ban phát, chia phần đề tài sang cơ chế Nhà nước đặt hàng dựa trên bài toán thực tiễn của xã hội. Nhà nước cần đứng ra bảo lãnh, hỗ trợ thị trường cho các sản phẩm khoa học công nghệ trong giai đoạn đầu để giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp. Bài học thực tế tại Hà Nội khi triển khai cụ thể hóa chính sách bằng một chùm nghị quyết về chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, thí điểm cơ chế sandbox, lập các quỹ hỗ trợ thu hút nhân tài và đầu tư sáng tạo chính là những bước đi thiết thực cần được nhân rộng.

Thứ hai, cần xây dựng mô hình Nhóm đặc trách thị trường để kết nối cung - cầu một cách chuyên nghiệp. Đi từ đề xuất của chị Thanh Hương và phân tích của bà Khánh Vân, các tổ chức như Hội Nữ trí thức Việt Nam cần chủ động thành lập các nhóm chuyên trách đi tìm hiểu xem thị trường thực tế đang cần gì, tìm kiếm đơn đặt hàng trước từ các doanh nghiệp và nhà đầu tư, sau đó mới quay lại tài trợ cho các nhà khoa học nghiên cứu. Cách làm đi ngược từ nhu cầu thị trường về phòng thí nghiệm này sẽ đảm bảo đầu ra thực chất cho đề tài. Đồng thời, Cổng thông tin khoa học quốc gia cần đồng bộ dữ liệu, giảm thiểu các chi phí dịch vụ tra cứu để hỗ trợ nhà khoa học tự chứng minh tính mới khi đăng ký bằng sáng chế một cách thuận lợi nhất.

Thứ ba, để chính sách thực sự giải quyết được những khó khăn mang tính đặc thù giới, bắt buộc phải tăng tỷ lệ nữ giới tham gia các ban lãnh đạo và hội đồng hoạch định chính sách khoa học công nghệ. Đúng như bà Bùi Thị An đã khẳng định, muốn các thành quả của nhà khoa học nữ được đi vào thị trường thì nhà khoa học nữ phải được tham gia hoạch định chính sách khoa học một cách toàn diện.

Khai thông dòng chảy đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một cuộc cách mạng về cơ chế quản lý và minh bạch chính sách. Chỉ khi nào những điểm nghẽn ở cấp thực thi được tháo gỡ, chất xám của đội ngũ nữ trí thức mới thực sự được giải phóng, trở thành nguồn lực đóng góp cho sự phát triển của quốc gia.

Kim Thanh












Home Icon VỀ TRANG CHỦ