🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Kết nối nghiên cứu và doanh nghiệp để làm chủ công nghệ giống tôm

50 phút trước
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhu cầu giống tôm nước lợ của Việt Nam khoảng 150–160 tỉ con mỗi năm.

Ngày 18/10, tại Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Tập đoàn Việt Úc tổ chức Hội thảo "Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam". Hội thảo tập trung trao đổi kết quả nghiên cứu, xác định các nút thắt công nghệ và hướng hợp tác giữa cơ quan quản lý, viện, trường, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhu cầu giống tôm nước lợ của Việt Nam khoảng 150–160 tỉ con mỗi năm. Việt Nam đã có kết quả nghiên cứu, chọn tạo giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng, song năng lực chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao còn cần tiếp tục nâng lên. Với tôm hùm, nguồn giống phục vụ nuôi thương phẩm vẫn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại hội thảo. Ảnh: M.H

Các nghiên cứu trong nước đã đạt kết quả ở một số công đoạn nuôi vỗ tôm hùm bố mẹ, sinh sản và ương nuôi ấu trùng, nhưng chưa hoàn thiện quy trình sản xuất con giống nhân tạo. Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết gồm dinh dưỡng ấu trùng, kiểm soát môi trường, hệ thống ương và quá trình chuyển sang giai đoạn con giống. Đây là cơ sở để xác định nội dung ưu tiên nghiên cứu và lựa chọn đối tác có năng lực bổ trợ.

Tại hội thảo, các chuyên gia CSIRO, Cơ quan Khoa học Quốc gia Australia, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành, xây dựng năng lực và kết nối các nguồn lực trong phát triển công nghệ thủy sản. Doanh nghiệp Ornatas của Australia, hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sản xuất giống và nuôi tôm hùm, giới thiệu kết quả nghiên cứu, cùng những yêu cầu về kỹ thuật, chi phí và hiệu quả khi mở rộng sản xuất.

Tập đoàn Việt Úc trình bày hướng kế thừa tri thức, dữ liệu và kinh nghiệm từ chương trình chọn giống tôm thẻ chân trắng để hỗ trợ nghiên cứu di truyền tôm hùm bông. Những kết quả so sánh hệ gene bước đầu gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo, cần được kiểm chứng để đánh giá khả năng ứng dụng. Việc kết nối với đối tác quốc tế nhằm bổ sung chuyên môn, tiếp cận phương pháp và công nghệ, gắn với năng lực nghiên cứu, thử nghiệm trong nước.

Các đại biểu tham quan khu nuôi tôm. Ảnh: M.H

Tham luận của Đại học Cần Thơ nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giống, gắn nghiên cứu với chuyển giao và đào tạo. Đắk Lắk đề nghị lựa chọn cơ sở thử nghiệm phù hợp về hạ tầng, nguồn nước, nhân lực và an toàn sinh học. Quảng Ngãi đề xuất đánh giá chất lượng giống trong điều kiện nuôi thực tế, có sự tham gia của cơ sở sản xuất và người nuôi."

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh, triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh phải gắn với nâng cao năng lực của ngành thủy sản xuất khẩu và làm chủ các công nghệ cốt lõi.

Theo Bộ trưởng, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho công nghệ chiến lược, nhất là khâu R&D có rủi ro cao và hệ thống phòng thí nghiệm. Địa phương có trách nhiệm quy hoạch quỹ đất, vùng nuôi và hạ tầng phù hợp. Doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm, phối hợp với viện, trường nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống, chọn lọc gen và tổ chức sản xuất ở quy mô công nghiệp, hướng tới trở thành doanh nghiệp giống có vị thế trong khu vực và thế giới.

Đối với tôm hùm, Việt Nam có cơ sở để tin tưởng vào khả năng thành công khi kế thừa thành tựu nghiên cứu 20 năm của Australia, 25 năm kinh nghiệm của Tập đoàn Việt Úc cùng kết quả các nhiệm vụ do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ cho viện, trường và doanh nghiệp thời gian qua. Bộ trưởng lưu ý, giống chỉ là một công đoạn trong chuỗi giá trị. Vì vậy, cần xây dựng chương trình tổng thể, dài hạn về tôm hùm, từ giống, thức ăn, vùng nuôi, phòng bệnh đến chế biến và thị trường; đồng thời đầu tư đủ lớn, đủ lâu để tạo ra sản phẩm thương mại.

Tô Hội

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ