🔍
Chuyên mục: Thời sự

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị: Chuyên đề 'Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới'

19 phút trước
Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới - chứ không phải một chỉ thị hay kết luận - nhằm giải quyết 4 vấn đề mà các hình thức văn bản khác không giải quyết được: xác lập tầm chiến lược dài hạn cho công tác tư tưởng; bảo đảm tính tổng thể, liên thông từ Trung ương đến cơ sở, từ trong nước ra ngoài nước, từ không gian thực sang không gian số; bố trí nguồn lực tương xứng; và ràng buộc trách nhiệm chính trị của cấp ủy, người đứng đầu bằng cơ chế kiểm tra, đánh giá.

Nghị quyết chuyên ngành nhưng mang tầm chiến lược quốc gia

Về quan hệ dọc - Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa Cương lĩnh và Nghị quyết Đại hội XIV trên lĩnh vực tư tưởng. Nghị quyết không đặt ra đường lối mới, mà chuyển hóa các quan điểm lớn của Đảng về xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức thành một chiến lược có mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình và địa chỉ trách nhiệm. Nói cách khác, đây là nghị quyết chuyên ngành nhưng mang tầm chiến lược quốc gia để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Về quan hệ ngang - Nghị quyết giữ vai trò nền tảng tinh thần cho toàn bộ hệ thống các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Những năm gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành liên tiếp các nghị quyết chiến lược trên những lĩnh vực then chốt: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70 NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, cùng các nghị quyết chuyên đề khác.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày Chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Nếu các nghị quyết chiến lược trả lời câu hỏi phát triển bằng cách nào, thì Nghị quyết này trả lời câu hỏi phát triển bằng sức mạnh tinh thần nào và ai đồng lòng cùng ta. Các nghị quyết kia giải phóng nguồn lực vật chất, thể chế, công nghệ; Nghị quyết này giải phóng nguồn lực tinh thần – thứ nguồn lực không nằm trong bất kỳ bảng cân đối nào nhưng lại quyết định tốc độ đi vào cuộc sống của tất cả các nghị quyết còn lại. Một chủ trương đúng mà lòng dân chưa thông thì vẫn ách tắc; một chính sách hay mà cán bộ chưa tin, không hiểu thì vẫn nằm trên giấy. Vì vậy, Nghị quyết về chiến lược công tác tư tưởng vừa đi trước mở đường, vừa đi cùng trong tổ chức thực hiện, vừa đi sau tổng kết và củng cố niềm tin cho từng nghị quyết chiến lược.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Nghị quyết xác định phương châm xuyên suốt: “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả”. Chủ động là không chờ sự việc xảy ra rồi mới lên tiếng. Sắc bén là đúng, trúng, kịp thời, có luận cứ. Thuyết phục là lấy lý lẽ và sự thật để chinh phục lòng người, không áp đặt. Hiệu quả là đo bằng chuyển biến trong nhận thức và hành động, không đo bằng số lượng văn bản, số buổi hội nghị.

Chuyển trọng tâm công tác tư tưởng về cơ sở, kết hợp không gian thực với không gian số

Về 8 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu, trong đó có 3 nhóm đột phá.

Nhóm thứ nhất là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng, chuyển trọng tâm sang dẫn dắt nhận thức xã hội. Cốt lõi: đưa nội dung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng và trách nhiệm nêu gương vào kiểm điểm, đánh giá, xếp loại hằng năm; mỗi chủ trương, chính sách lớn phải có đánh giá tác động về tư tưởng và phương án tuyên truyền, giải thích, đối thoại đi kèm; đổi mới việc nắm, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm bằng điều tra xã hội học kết hợp phân tích dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo - và phải chuyển kết quả dự báo thành quyết định lãnh đạo cụ thể, không dừng lại ở báo cáo.

Nhóm thứ hai là chuyển trọng tâm công tác tư tưởng về cơ sở, về từng địa bàn dân cư; kết hợp không gian thực với không gian số. Mỗi xã, phường, đặc khu phân công một đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy trực tiếp phụ trách; duy trì sinh hoạt tư tưởng tại thôn, tổ dân phố, khu dân cư; công tác tư tưởng là nội dung bắt buộc trong sinh hoạt chi bộ. Đổi mới căn bản hệ thống thông tin cơ sở; bảo đảm nguyên tắc một vụ việc - một đầu mối phát ngôn - một bộ thông điệp thống nhất. Xử lý vấn đề ngay tại nơi phát sinh, không để hình thành điểm nóng.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày Chuyên đề “Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới”. Ảnh: Phạm Thắng

Nhóm thứ ba là đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới giáo dục lý luận chính trị; nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển lý luận. Lấy kết quả thực hành làm thước đo chủ yếu trong đánh giá tổ chức đảng, đảng viên; hằng năm mỗi cấp ủy rà soát, công khai và giải quyết dứt điểm danh mục việc khó, việc tồn đọng, vấn đề gây bức xúc trong Nhân dân.

Nhóm thứ tư là đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, quán triệt, triển khai nghị quyết và truyền thông chính sách. Chuyển mạnh từ truyền đạt một chiều sang trao đổi, đối thoại, thuyết phục gắn với tổ chức thực hiện; bí thư cấp ủy trực tiếp quán triệt nghị quyết; chấm dứt tình trạng quán triệt hình thức, đối phó. Mỗi nghị quyết phải có tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, chỉ rõ điểm mới và việc cần làm ngay. Hằng năm ban hành Kế hoạch truyền thông chính sách trọng điểm; truyền thông chính sách phải đi trước một bước, từ sớm, từ xa; cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm chính về truyền thông chính sách do mình đề xuất.

Nhóm thứ năm là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm an ninh tư tưởng. Kiện toàn lực lượng đấu tranh ba cấp Trung ương - tỉnh - cơ sở trên cơ sở Ban Chỉ đạo 35 hiện có; vận hành cơ sở dữ liệu luận cứ dùng chung; ban hành Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và phản ứng khủng hoảng thông tin, phân định rõ mức độ tác động, biện pháp xử lý và đầu mối chỉ huy; thực hiện nghiêm kỷ luật phát ngôn và sử dụng mạng xã hội.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Lâm Hiển

Nhóm thứ sáu là xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống, tích cực, nhân văn; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân; chuẩn mực ứng xử trong xã hội và trên không gian số. Làm cho cái đúng, cái tốt, cái đẹp trở thành dòng chủ lưu; xây dựng mạng lưới người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực; đưa văn hóa số, kỹ năng thông tin số và năng lực kiểm chứng thông tin vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học để nâng sức đề kháng của Nhân dân.

Nhóm thứ bảy là đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng đối ngoại và thông tin đối ngoại. Bảo đảm nhất quán giữa thông tin đối nội và đối ngoại; phát triển hệ sinh thái truyền thông đối ngoại đa nền tảng, đa ngôn ngữ; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; chủ động phản bác thông tin sai lệch về Việt Nam trên truyền thông quốc tế.

Nhóm thứ tám là bảo đảm về đội ngũ cán bộ; thể chế, cơ chế, chính sách; dữ liệu, công nghệ, hạ tầng; kiểm tra, giám sát và đánh giá. Ban hành khung năng lực và tiêu chuẩn chức danh cán bộ làm công tác tư tưởng; bố trí đủ cán bộ chuyên trách ở cấp xã; có chính sách đãi ngộ đặc thù và bảo vệ cán bộ dám nói thẳng, dám đấu tranh, dám chịu trách nhiệm. Hiện đại hóa hạ tầng, thiết chế thông tin cơ sở; xây dựng nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung và hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, liên thông từ Trung ương tới cấp xã, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia. Xây dựng và áp dụng thống nhất hệ tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng; sử dụng kết quả đánh giá làm căn cứ bố trí nguồn lực và xem xét trách nhiệm người đứng đầu. Nhìn tổng thể, tám nhóm giải pháp ấy trả lời trọn vẹn bốn câu hỏi: ai lãnh đạo và chịu trách nhiệm; làm ở đâu là chính – ở cơ sở, ở từng địa bàn dân cư; làm bằng nội dung gì và phương thức nào; và làm bằng nguồn lực, con người, công nghệ.

P. Thủy ghi

Chuyên đề do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ