Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà ngoại giao kiệt xuất của Việt Nam

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, mở đầu hành trình tìm hiểu thế giới, tiếp thu tinh hoa nhân loại và hình thành tư duy đối ngoại. (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, khi mới 21 tuổi đời, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từng bước trưởng thành, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh.
Hành trình của Người đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc với nhiều dân tộc và nền văn hóa, trực tiếp quan sát chủ nghĩa thực dân và đời sống của nhân dân các nước thuộc địa.
Với tư duy sắc sảo và trí tuệ lớn lao, Người từng bước hình thành nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.
Am hiểu nhiều nền văn hóa, phong tục, ngôn ngữ và phương thức giao tiếp quốc tế, Người biết lựa chọn, tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại.
Từ những trải nghiệm quốc tế ấy, Người hình thành phong cách đối ngoại vừa có tính nguyên tắc, vừa uyển chuyển, linh hoạt.
Nguyên tắc của Người là luôn đặt lợi ích của dân tộc Việt Nam trong tổng thể lợi ích của cách mạng thế giới, biết tranh thủ sự ủng hộ quốc tế nhưng vẫn giữ vững quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
Những nội dung cốt lõi trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo nước ngoài, khẳng định tự do, độc lập là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc. (Nguồn: TTXVN)
Trả lời các nhà báo nước ngoài ngày 2/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”.
Câu nói nhấn mạnh, độc lập không phải là món quà do bên ngoài ban phát, mà là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc.
Người đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết trong mọi quan hệ quốc tế và coi đây là lợi ích tối thượng.
Người yêu cầu một quốc gia phải có nền độc lập thực sự, với chủ quyền đầy đủ, toàn vẹn lãnh thổ, không chịu sự lệ thuộc vào bất kỳ thế lực bên ngoài nào.
Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”.
Người xác định ngoại giao phải phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chính phủ Pháp ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia)
Với nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là những giá trị bất biến.
Trong thực tiễn, Người vận dụng sách lược linh hoạt về phương pháp, tùy từng thời điểm, đối tượng để lựa chọn hình thức phù hợp. Đây là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Thù trong, giặc ngoài, khó khăn bủa vây tứ phía, trong khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được một nước nào công nhận.
Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã bình tĩnh, sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng.
Trước hết, Người chủ trương hòa hoãn, đàm phán để tránh cùng lúc phải đối đầu với nhiều lực lượng.
Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Liên hợp quốc (LHQ) trong việc cho quân Anh vào miền Nam, quân Tưởng vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật, đồng thời chấp nhận một phần yêu cầu về hậu cần cho các lực lượng này.
Đối với lực lượng tay sai của quân Tưởng là Việt Quốc, Việt Cách, ta mở rộng Chính phủ để họ tham gia, đồng thời nhân nhượng dành cho họ 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử.
Tháng 2/1946, trước việc quân Pháp và quân Tưởng ký Hiệp ước Hoa-Pháp ở Trùng Khánh, thỏa thuận việc quân Tưởng rút về nước và trao miền Bắc Việt Nam cho quân Pháp, Chính phủ ta đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3, chấp nhận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc để buộc 20 vạn quân Tưởng rút về nước, tránh phải cùng lúc đối đầu với hai kẻ thù.
Khi Hiệp định Sơ bộ bế tắc, Hội nghị Fontainebleau kết thúc mà không đạt kết quả do phía Pháp có hành động phá hoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký Tạm ước ngày 14/9 với Marius Moutet, Bộ trưởng Thuộc địa Pháp, nhằm kéo dài thêm thời gian hòa hoãn.
Trong các cuộc đàm phán, vấn đề gây tranh cãi lớn nhất là phía Việt Nam kiên quyết đòi độc lập, trong khi phía Pháp không chấp nhận.
Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp Việt Nam là một quốc gia tự do và phía Pháp mới đồng ý.
Đây thực sự là một sự nhân nhượng có nguyên tắc của Người.
Bởi Người luôn đòi hỏi một nền độc lập, tự do, thống nhất thực sự, thực chất, đúng như Người nhấn mạnh trong Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm độc lập 2/9/1948: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”.
Sau này, trong chỉ đạo công tác ngoại giao thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì mục tiêu độc lập, thống nhất, kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự và chính trị.
Người nhất quán khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính. Người cũng nhấn mạnh tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách khai thác nguồn lực nội sinh làm nền tảng cho hoạt động ngoại giao. Người khẳng định: “Phải trông ở thực lực… Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”.
Thứ ba, thêm bạn, bớt thù

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chính phủ Pháp Marius Moutet sau khi ký Tạm ước Việt-Pháp ngày 14/9/1946. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia)
Cốt lõi của tư tưởng này là mở rộng tối đa lực lượng có thể tranh thủ, đồng thời thu hẹp tối đa lực lượng đối địch, qua đó tạo ra tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhìn thế giới theo cách đơn giản “ta - địch”, mà luôn phân tích cụ thể từng đối tượng, từng mâu thuẫn, từng thời điểm và từng trường hợp.
Vì vậy, Người có thể đồng thời thực hiện năm bước đi gồm kiên định về nguyên tắc - mềm dẻo về sách lược - phân hóa đối phương - tranh thủ đồng minh - cô lập kẻ thù.
Biểu hiện nổi bật của nghệ thuật ngoại giao này là giai đoạn 1945-1946.
Sau khi Nhật nổ súng cướp chính quyền từ tay Pháp tháng 3/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các địa phương che chở, giúp đỡ quân Pháp đang tháo chạy.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm đưa ra nguyên tắc và phương châm đối ngoại: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”.
Trước tình thế phải đối phó với nhiều lực lượng bên ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương không cùng lúc đối đầu với nhiều kẻ thù, mà tìm cách phân hóa, hòa hoãn và tranh thủ từng đối tượng.
Từ tháng 8/1945 đến tháng 3/1946, ta hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc để tập trung đối phó với thực dân Pháp ở Nam Bộ.
Ngày 6/3/1946, ta ký Hiệp định Sơ bộ, chấp nhận một số nhân nhượng với Pháp để buộc quân Tưởng rút khỏi Việt Nam.
Ngày 14/9/1946, ta ký Tạm ước Việt-Pháp để tiếp tục kéo dài thời gian hòa hoãn, tranh thủ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tìm kiếm sự nhân nhượng bằng mọi giá, mà hướng tới tạo lập thế có lợi nhất cho lợi ích quốc gia, dân tộc.
Người thực sự vận dụng nghệ thuật ngoại giao nhằm giảm thiểu số lượng kẻ thù và mở rộng lực lượng có thể tranh thủ.
Thứ tư, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Nhân dân Thủ đô Warsaw nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Cộng hòa Nhân dân Ba Lan năm 1957. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ hữu cơ với cách mạng thế giới.
Bên cạnh việc phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc, Người tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đưa sự nghiệp của Việt Nam hòa vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sức mạnh dân tộc là nền tảng. Sức mạnh ấy trước hết là lòng yêu nước, tinh thần độc lập, ý chí tự lực, tự cường và truyền thống đoàn kết của nhân dân.
Người đặc biệt coi trọng việc phát huy sức mạnh của toàn dân, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, quá khứ hay chính kiến, miễn là cùng hướng tới lợi ích của Tổ quốc.
Vì thế, tư tưởng đại đoàn kết trở thành phương thức tập hợp và phát huy sức mạnh dân tộc.
Người đặc biệt coi trọng việc đặt cách mạng nước ta gắn với “ba dòng thác cách mạng”, gồm phong trào công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Người không dựa dẫm, ỷ lại vào bên ngoài, chủ trương tự lực, tự cường nhưng không cô lập. Người nói: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”.
Người không tuyệt đối hóa sức mạnh dân tộc mà xem nhẹ xu thế quốc tế, cũng không trông chờ vào sức mạnh quốc tế mà xem nhẹ nội lực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm cách biến sự đồng tình, ủng hộ quốc tế thành nguồn lực bổ sung cho sức mạnh dân tộc, phục vụ mục tiêu độc lập, thống nhất và phát triển đất nước.
Thứ năm, độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Bắc Kinh trong chuyến thăm Trung Quốc ngày 25/6/1955. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 25/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu tại sân bay Bắc Kinh về quan điểm đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình”.
Trong Lời kêu gọi LHQ năm 1946, Người nêu rõ những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của nước Việt Nam:
(1) Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền.
(2) Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của LHQ.
d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của LHQ những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”.
Nhờ nhìn nhận đúng vị trí của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, nhạy bén trước những thay đổi của cục diện thế giới, biết tận dụng mâu thuẫn giữa các đối thủ để bảo vệ lợi ích dân tộc, đồng thời kịp thời, chủ động đưa vấn đề Việt Nam ra các diễn đàn quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là bậc thầy của nền ngoại giao Việt Nam. Người góp phần xây dựng hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập, tự do và chủ quyền lãnh thổ.
Nay Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và thực tiễn hoạt động của Người về một nền ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vẫn vẹn nguyên giá trị, tiếp tục soi đường cho ngành ngoại giao hôm nay.
Tài liệu tham khảo:
Hồ Chí Minh, Toàn tập, 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 5, tr. 162.
TS. Chu Đức Tính
5 phút trước
11 phút trước
33 phút trước
Vừa xong
6 phút trước
7 phút trước
14 phút trước
18 phút trước
18 phút trước
19 phút trước
21 phút trước