🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Hoạt động khuyến học ở Đàng Trong

1 giờ trước
Đàng Trong (1558-1777) là vùng đất Nguyễn Hoàng (1525-1613) vào Nam khẩn hoang, mở cõi, xây dựng một chính quyền mới. Trong quá trình tồn tại, chính quyền Đàng Trong đã tạo lập hoạt động khuyến học cho cả vùng và trở thành một phần trong hoạt động về khuyến học ở nước ta thời quân chủ.

Văn miếu Trấn Biên là được xây năm 1715 tại xứ Đàng Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và là nơi đào tạo nhân tài.

Đàng Trong là vùng đất mới của người Việt, có Nho giáo bị chi phối bởi tín ngưỡng Bà La Môn của người Chăm, đa thần giáo của người Thượng nên hoạt động khuyến học ở vùng này bị mờ nhạt.

Thêm vào đó, trong quá trình mở cõi, càng tiến về phía Nam thì đất đai càng phì nhiêu, màu mỡ, khiến cuộc sống của cư dân làm nông nghiệp Đàng Trong khá giả hơn so với Đàng Ngoài.

Do vậy việc "cơm, áo, gạo, tiền" không phải là vấn đề thúc bách đối với họ dẫn đến nhu cầu về học tập, thi cử ra làm quan, làm thay đổi thân phận cũng không phải là điều bận tâm đối với cư dân nơi đây.

Tuy nhiên, để xây dựng chính quyền vững mạnh có thể đương đầu với chính quyền Đàng Ngoài của vua Lê chúa Trịnh, các chúa Nguyễn đã tiếp thu hoạt động khuyến học từ nơi họ ra đi để thu phục nhân tài thừa hành trong bộ máy chính quyền.

Khác với Đàng Ngoài, chính quyền Đàng Trong không đứng ra lập trường công ở cấp huyện, phủ theo mô hình có sẵn của Đàng Ngoài để tạo nguồn nhân lực bền vững, mà chỉ tổ chức các kỳ thi nhằm tuyển chọn nhân tài.

Điều đó có nghĩa chỉ khi nào cần nhân lực bổ dụng vào bộ máy hành chính thì khi đó chính quyền mới tổ chức thi cử, còn việc học tập của sĩ tử là do họ tự tìm thầy để thụ nghiệp, thông qua trường tư thục, không phải là trường công lập.

Tư liệu cho biết, việc thi tuyển của Đàng Trong bắt đầu từ năm 1631, thuộc đời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1634), lấy người đỗ gọi là Nhiêu học.

Trải mấy chục năm sau, đến đời chúa Nguyễn Phúc Loan (1635-1648) mới có khoa Chính đồ và Hoa văn, hai khoa này đều thi trong ba ngày, trong đó khoa Chính đồ thì ngày thứ nhất thi tứ lục; ngày thứ hai thi thơ, phú; ngày thứ ba thi văn sách. Khoa Hoa văn thì mỗi ngày thi một bài thơ, tất cả là ba bài thơ.

Số người đỗ trong mỗi khoa thi của hai khoa Chính đồ và Hoa văn chỉ chừng vài chục trở xuống được lập thành hai danh sách: một danh sách cho người đỗ Chính đồ trình lên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn sẽ phân loại làm ba hạng là Giáp, Ất và Bính.

Người đỗ hạng Giáp, gọi là Giám sinh, được bổ vào chức Tri phủ hoặc Tri huyện. Người đỗ hạng Ất, gọi là Sinh đồ, được bổ chức Huấn đạo. Người đỗ hạng Bính cũng gọi là Sinh đồ, được bổ chức Lễ sinh hoặc cho làm Nhiêu học. Danh sách còn lại là người đỗ khoa Hoa văn cũng chia làm ba hạng Giáp, Ất và Bính, được bổ làm việc ở ba ty là Xá sai, Lệnh sử và Tướng thần lại.

Các kỳ thi của các chúa Nguyễn về sau có tên là Văn chức, Tam ty... cũng không có gì đặc biệt, chủ yếu vẫn là chọn người đỗ bổ làm công việc hành chính, sự vụ. Số người đỗ ở Đàng Trong nhìn chung ít và không được ghi thành sách Đăng khoa lục để khuyến khích tinh thần học tập cho sĩ tử Đàng Trong.

Đây là điểm hạn chế trong hoạt động khuyến học của Đàng Trong so với Đàng Ngoài. Lê Quý Đôn nhận xét rằng: "Họ Nguyễn trước chuyên giữ một phương chỉ mở thi Hương, song chuyên dùng lại tư, không chuộng văn học, ít thu lượm người tuấn dị. Mỗi khi có khảo thí thì lấy học sinh Hoa văn gấp 5 lần Chính đồ và những nơi quan yếu thì ủy cho họ hàng coi giữ mà cho người đậu vào Hoa văn giúp việc".

Không chỉ có vậy, tiêu cực cũng xảy ra trong thi cử ở Đàng Trong. Năm Tân Sửu (1721), chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) đánh hỏng 77 người trúng cách sau khi tự mình ra đề thi đã nói lên điều đó. Đặc biệt trong suốt 219 năm nắm quyền trấn trị Đàng Trong (1558-1777), các chúa Nguyễn chưa một lần mở thi Hội và thi Đình, điều cũng được xem là hạn chế trong hoạt động khuyến học ở vùng này.

Song để khuyến khích tinh thần học tập cho học sinh trong toàn cõi, các chúa Nguyễn đã xây dựng Văn miếu theo mô hình ở Đàng Ngoài lấy làm nơi thờ Tiên Thánh, Tiên hiền của đạo học. Đó là Văn miếu Phú Xuân đặt tại làng Triều Sơn, hiện chưa rõ năm dựng. Đến năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu cho trùng tu. Trải đến năm 1770, chúa Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777), tiếp tục cho di dời đến dựng tại xã Long Hồ. Về sau vào năm 1808, Văn miếu Phú Xuân trở thành Văn miếu cấp trung ương, do triều đình nhà Nguyễn quản lý.

Ngoài Văn miếu Phú Xuân, còn có Văn miếu Trấn Biên được xây dựng từ khá sớm. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: "[Văn miếu Trấn Biên] ở địa phận thôn Tân Lại huyện Phước Chính, cách tỉnh thành 2 dặm về phía tây bắc. Năm Ất Mùi, Hiến Tông thứ 25 (1715), trấn thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Phan Long và viên ký lục là Phạm Khánh Đức tìm đất để dựng, phía nam trông ra sông Phước Giang, phía bắc dựa vào núi Long Sơn, là một cảnh đẹp nhất ở Trấn Biên; năm Giáp Dần (1794) đời Thế Tổ Cao hoàng đế, Lễ bộ Nguyễn Đô phụng mệnh tu bổ".

Quy mô, cấu trúc của Văn miếu Trấn Biên, vẫn theo Đại Nam nhất thống chí:" ở giữa dựng Văn miếu, biển ngạch khắc chữ " Đại Thành điện", phía tây dựng đền Khải Thánh, biển ngạch khắc chữ " Khải Thánh điện"; phía đông là nhà kho; xung quanh xây gạch, phía tả là cửa Kim Thanh, phía hữu là cửa Ngọc Chấn, phía trước là cửa Đại Thành, giữa sân dựng Khuê Văn Các, biển ngạch khắc chữ "Khuê Văn các", treo chuông trống ở trên, trước cửa có cầu, phía tả là nhà Sùng Văn, phía hữu là nhà Duy Lễ, bên ngoài xây tường vuông, phía trước là cửa Văn miếu, tả hữu có hai cửa nghi môn; cột xà chạm đục, thể chế tinh xảo".

Cũng theo ghi chép của sách địa chí nêu trên, việc tế lễ Khổng Tử và các Tiên hiền ở Văn miếu Trấn Biên được tổ chức " vào hai ngày đinh mùa xuân và mùa thu. Đầu đời trung hưng nhà vua thường thân làm lễ, về sau sai quan tế thay". Sau này đến triều Nguyễn, Văn miếu Trấn Biên trở thành Văn miếu của tỉnh Biên Hòa.

Như vậy, Văn miếu Phú Xuân và Văn miếu Trấn Biên là hai nơi khuyến học, khuyến tài, cổ vũ tinh thần học tập cho sĩ tử Đàng Trong, góp phần tạo nên truyền thống hiếu học đáng tự hào của dân tộc ta.

*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long

TS Nguyễn Hữu Mùi*

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ