🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ để phát triển sản xuất bền vững

49 phút trước

ĐBP - Giai đoạn 2021 - 2025, các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Song, quá trình triển khai vẫn còn những vướng mắc về cơ chế hỗ trợ và đối tượng thụ hưởng. Tại Kỳ họp thứ tư, HĐND tỉnh khóa XVI (diễn ra từ ngày 15 - 16/7), dự thảo Nghị quyết quy định mức hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất sử dụng nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 là một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm của đại biểu và cử tri.

Theo dự thảo nghị quyết, chính sách được xây dựng theo hướng quy định cụ thể mức hỗ trợ đối với 3 nhóm dự án, gồm: Dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, dự án phát triển sản xuất cộng đồng và dự án phát triển sản xuất theo nhiệm vụ. Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ gia đình có thành viên là người có công với cách mạng, mức hỗ trợ tối đa bằng 100% kinh phí thực hiện các nội dung được hỗ trợ; các hộ còn lại được hỗ trợ tối đa 50%.

Đối với đơn vị chủ trì liên kết là doanh nghiệp, hợp tác xã, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đầu tư một số hạng mục theo quy định. Đáng chú ý, dự thảo cũng quy định tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ của dự án liên kết phải được sử dụng trực tiếp cho các hoạt động sản xuất của người dân, bảo đảm nguồn lực tập trung đúng đối tượng thụ hưởng.

Đồng chí Mùa A Vảng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát biểu tại Tổ thảo luận số 3, Kỳ họp thứ tư, HĐND tỉnh khóa XVI.

Tham gia ý kiến tại phiên thảo luận tổ, đồng chí Mùa A Vảng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh cho rằng, việc ban hành cơ chế hỗ trợ cụ thể đối với các dự án phát triển sản xuất là rất cần thiết. Đây là căn cứ để các địa phương chủ động xây dựng, triển khai các mô hình phát triển sản xuất phù hợp, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng chí Mùa A Vảng đề nghị chính sách tập trung hỗ trợ đúng đối tượng, khuyến khích người dân tham gia liên kết sản xuất, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, góp phần nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Đại biểu HĐND tỉnh Mùa Thị Kía.

Đồng tình với sự cần thiết ban hành nghị quyết, đại biểu HĐND tỉnh Mùa Thị Kía đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Theo đại biểu, hiện nay nhiều diện tích đất nương đang canh tác các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế chưa cao như: Ngô, sắn, dong riềng... trong khi đó, nhu cầu chuyển đổi sang các loại cây có giá trị kinh tế cao ngày càng lớn. Vì vậy, cần xem xét bổ sung cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với diện tích đất nương khi chuyển đổi sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện để người dân mạnh dạn chuyển đổi sản xuất, khai thác hiệu quả quỹ đất và nâng cao thu nhập.

Chính sách này cũng nhận được sự đồng tình từ những người trực tiếp tổ chức triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia tại địa phương. Ông Pờ Hùng Sang, Phó Chủ tịch HĐND xã Mường Nhé đánh giá, dự thảo nghị quyết đã quy định khá cụ thể về đối tượng, mức hỗ trợ và nguyên tắc thực hiện, tạo thuận lợi cho địa phương trong quá trình triển khai. Theo ông Sang, khi có khung chính sách thống nhất, các xã sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với lợi thế của địa phương. Đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ. Điều quan trọng là quá trình thực hiện cần bảo đảm công khai, minh bạch, lựa chọn đúng đối tượng, đúng nhu cầu để mỗi dự án sau khi hoàn thành đều mang lại hiệu quả thiết thực.

Ông Pờ Hùng Sang, Phó Chủ tịch HĐND xã Mường Nhé.

Nhiều ý kiến tại tổ thảo luận dành sự quan tâm đến các quy định về điều kiện tham gia dự án nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn sản xuất ở cơ sở. Dự thảo định hướng ưu tiên hỗ trợ phát triển các cây trồng chủ lực của tỉnh như: Mắc ca, cà phê, dứa, chanh leo... gắn với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung từ 30ha trở lên; các hộ tham gia dự án có diện tích sản xuất tối thiểu 0,2ha. Mục tiêu là từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến và tiêu thụ. Bởi thực tế tại nhiều xã vùng cao, tình hình đất sản xuất còn manh mún, phân tán khiến không ít hộ dân gặp khó khăn nếu điều kiện tham gia dự án được quy định quá chặt. Điều này cũng được nhiều địa phương phản ánh trong quá trình góp ý dự thảo.

Một điểm khác của dự thảo nhận được sự đồng tình là nguyên tắc ưu tiên nguồn lực trực tiếp cho người sản xuất. Quy định dự án liên kết phải dành tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất của người dân được kỳ vọng sẽ hạn chế tình trạng nguồn vốn phân tán vào các khoản chi gián tiếp, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Đây cũng là cơ sở để tăng tính giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện, bảo đảm nguồn lực của Nhà nước thực sự đến với người dân - đối tượng thụ hưởng chính của các chương trình mục tiêu quốc gia.

Là người gắn bó với mô hình du lịch cộng đồng ở bản Nặm Cứm, xã Nà Tấu, anh Vàng A Dế kỳ vọng nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, tạo thêm sản phẩm đặc trưng phục vụ du lịch và tăng thu nhập.

Anh Vàng A Dế, bản Nặm Cứm, xã Nà Tấu.

Có thể thấy, dự thảo Nghị quyết quy định mức hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất sử dụng nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 hướng tới xây dựng cơ chế hỗ trợ thống nhất, khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, hình thành vùng nguyên liệu tập trung và nâng cao giá trị nông sản. Định hướng này phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới.

Quang Long




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ