'Tiền trong dân rất nhiều'
Không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng
Phát biểu tại Hội thảo "Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn" do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 15/7, ông Bùi Hoàng Hải - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - cho biết, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế ước khoảng 38 triệu tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chỉ khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương 20%. Phần còn lại sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn quốc tế.
Theo ông Hải, để huy động hiệu quả nguồn lực này, Việt Nam không thể phụ thuộc vào một kênh vốn duy nhất mà cần phát triển đồng bộ các kênh dẫn vốn.

Ông Bùi Hoàng Hải - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Liên quan đến tỷ lệ tín dụng hiện tương đương khoảng 146% GDP, ông Hải cho rằng đây không phải vấn đề đáng lo ngại. Nhiều quốc gia còn có tỷ lệ cao hơn. Mỗi nền kinh tế có đặc điểm phát triển khác nhau, có nước dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, có nước lại dựa nhiều vào thị trường vốn.
Điều đáng quan tâm hơn là tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện chỉ khoảng 12%, thấp hơn mức 15-18% của nhiều quốc gia. Bên cạnh đó là sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động ngắn hạn với nhu cầu cho vay trung và dài hạn.
Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu lãi suất huy động tăng lên trên 10%, kéo theo lãi suất cho vay ở mức 13-15%, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán.
Ông Nguyễn Sơn - Chủ tịch Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) - cho rằng, dư địa tăng trưởng tín dụng không còn nhiều. Vì vậy, thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu sẽ phải đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Để dòng vốn đi vào các kênh đầu tư dài hạn
Bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quỹ đầu tư PV (PVI AM) - nhận định: "Tiền trong dân rất nhiều. Thống kê về quy mô thị trường vàng hay tài sản số của Việt Nam đều thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Vấn đề là làm sao nắn dòng tiền đó vào các kênh đầu tư dài hạn", bà Giao nói.

Quang cảnh hội thảo.
Theo bà Giao, thị trường tài chính Việt Nam hiện có ba trụ cột gồm ngân hàng, bảo hiểm và quỹ đầu tư. Ngân hàng phát triển mạnh nhờ tạo được niềm tin đối với người gửi tiền. Trong khi đó, ngành bảo hiểm vẫn chưa phát huy hết vai trò. Hiện tổng tài sản của ngành bảo hiểm mới tương đương khoảng 7,5% GDP, thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc hay Singapore.
Đối với ngành quỹ, khoảng trống lớn nhất hiện nay vẫn là niềm tin của nhà đầu tư. Các công ty quản lý quỹ cần đẩy mạnh giáo dục tài chính, đồng thời phát triển các sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu của người dân.
Bà Giao cũng kiến nghị nghiên cứu chính sách thuế để khuyến khích phát triển ngành quỹ. Theo bà, nhiều quốc gia như Trung Quốc đã miễn thuế đối với quỹ tương hỗ từ nhiều năm trước nhằm thúc đẩy dòng vốn đầu tư dài hạn.
Cùng góc độ doanh nghiệp quản lý quỹ, bà Dương Kim Anh - Giám đốc Khối đầu tư Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF) - cho rằng muốn khơi thông dòng vốn trong dân cần thúc đẩy mạnh sự phát triển của các nhà đầu tư tổ chức. Theo bà, thách thức lớn nhất hiện nay là thay đổi thói quen của nhà đầu tư cá nhân từ đầu cơ ngắn hạn sang đầu tư dài hạn thông qua các sản phẩm tài chính chuyên nghiệp.
"Nếu vẫn coi đầu tư là đầu cơ thì rất khó để nhà đầu tư lựa chọn các quỹ đầu tư hay các sản phẩm tài chính dài hạn", bà Kim Anh nói.
Một điểm nghẽn khác là hệ thống phân phối sản phẩm đầu tư còn hạn chế. "Nhà đầu tư ngày nay không chỉ có nhu cầu gửi tiết kiệm mà cần những giải pháp tài chính đa dạng hơn để quản lý và gia tăng tài sản. Vì vậy, cần nghiên cứu mở rộng vai trò của ngân hàng trong việc phân phối sản phẩm đầu tư, có thể thí điểm tại những ngân hàng có hệ thống quản trị rủi ro tốt", bà Kim Anh đề xuất.
Việt Linh
5 giờ trước
59 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
25 phút trước
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước