Hoàn thiện chính sách cho lao động qua nền tảng số: Kỳ vọng từ Công ước của ILO
Sự phát triển của kinh tế nền tảng đang làm thay đổi sâu sắc cách thức tổ chức lao động. Từ tài xế công nghệ, giao hàng đến freelancer, ngày càng nhiều người làm việc thông qua các nền tảng số, trong đó thuật toán và hệ thống ra quyết định tự động ngày càng tham gia sâu vào việc phân phối công việc, đánh giá hiệu suất và quyết định khả năng tiếp cận việc làm.
Theo ThS. Phạm Thanh Nga, Hòa giải viên Adhoc, Sở Tư pháp Hà Nội, trong và sau đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đã chuyển một phần hoạt động từ trực tiếp sang trực tuyến. Ngay cả khi đại dịch kết thúc, mô hình làm việc kết hợp vẫn tiếp tục được duy trì nhờ những lợi thế đối với cả người lao động và người sử dụng lao động.
THÔNG QUA CÔNG ƯỚC VỀ VIỆC LÀM THỎA ĐÁNG TRONG NỀN KINH TẾ NỀN TẢNG
“Cùng với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 và AI, lực lượng lao động tự do trên các nền tảng công nghệ cũng ngày càng mở rộng, cả về quy mô và tính chất công việc”, bà Nga nhận định. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong môi trường số.
Ngày 12/6/2026 vừa qua, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 193 năm 2026 về việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng. Đây là tiêu chuẩn lao động quốc tế đầu tiên của ILO dành riêng cho kinh tế nền tảng.
Theo bà Nga, Công ước đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật lao động và bảo vệ quyền con người trước những thay đổi sâu rộng của công nghệ, AI và các mô hình việc làm mới.
Theo Công ước, nền tảng lao động kỹ thuật số là pháp nhân hoặc cá nhân sử dụng công nghệ số và hệ thống ra quyết định tự động để tổ chức hoặc tạo điều kiện cho công việc có trả công, dù công việc được thực hiện trực tuyến hay tại một địa điểm cụ thể.
Người lao động nền tảng kỹ thuật số là người được thuê hoặc tuyển dụng để thực hiện công việc do nền tảng tổ chức, bất kể họ được pháp luật quốc gia phân loại là người lao động, người tự làm chủ hay dưới một hình thức khác.
Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với các tài xế công nghệ. Trong thực tế, nhiều người được nền tảng gọi là “đối tác”, “cộng tác viên” hoặc “người tự doanh”. Tuy nhiên, theo tinh thần của Công ước, tên gọi không phải yếu tố duy nhất quyết định địa vị pháp lý của người làm việc trên nền tảng.
Theo bà Nga, việc xác định đúng quan hệ lao động có ý nghĩa quan trọng bởi đây là cơ sở để xác định các quyền lợi đi kèm, từ tiền công, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động đến các cơ chế bảo vệ khác.
Vấn đề càng trở nên đáng chú ý khi nền kinh tế nền tảng ngày càng mở rộng. Không chỉ tài xế công nghệ, mô hình này còn bao gồm người giao hàng, freelancer và nhiều nhóm lao động thực hiện công việc thông qua các ứng dụng, nền tảng số.
CÔNG ƯỚC 193 ĐẶT RA NHỮNG QUYỀN GÌ CHO LAO ĐỘNG NỀN TẢNG?
Công ước 193 đưa ra một loạt nguyên tắc nhằm tăng cường bảo vệ người lao động trong nền kinh tế nền tảng.
Thứ nhất, xác định đúng quan hệ việc làm. Các quốc gia phải bảo đảm việc xác định quan hệ việc làm dựa trên thực tế công việc, tiền công và các yếu tố liên quan, thay vì chỉ dựa vào tên gọi hay hình thức hợp đồng.
Thứ hai, minh bạch về tiền công. Nền tảng phải cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và dễ hiểu về mức thù lao cũng như các khoản khấu trừ.
Thứ ba, bảo đảm an toàn, sức khỏe và phòng chống bạo lực, quấy rối. Người lao động có quyền rời khỏi tình huống mà họ có cơ sở hợp lý để cho rằng có nguy hiểm nghiêm trọng đối với tính mạng hoặc sức khỏe, đồng thời được bảo vệ trước bạo lực và quấy rối, cả trên môi trường trực tuyến và từ khách hàng.
Thứ tư, bảo đảm an sinh xã hội. Lao động nền tảng phải được tiếp cận các chế độ an sinh với điều kiện không kém thuận lợi so với những người lao động khác có cùng địa vị việc làm.
Thứ năm, minh bạch trong quản lý bằng thuật toán và AI. Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý của Công ước. Nền tảng phải thông báo cho người lao động về việc sử dụng hệ thống tự động, thuật toán để giám sát, đánh giá hoặc đưa ra các quyết định liên quan đến công việc, cũng như mức độ mà các hệ thống này ảnh hưởng đến điều kiện làm việc hoặc khả năng tiếp cận công việc.
Đáng chú ý, khi hệ thống tự động đưa ra quyết định gây bất lợi đáng kể, chẳng hạn khóa hoặc vô hiệu hóa tài khoản, chấm dứt việc làm hoặc hợp tác, hoặc không thanh toán khoản tiền đến hạn, người lao động có quyền yêu cầu giải thích, đề nghị xem xét lại quyết định và phải có sự tham gia phù hợp của con người trong quá trình xử lý.
Quy định này đặt ra một nguyên tắc mới trong quản trị lao động nền tảng: thuật toán có thể tham gia quyết định, nhưng không thể đồng nghĩa với việc trách nhiệm đối với người lao động cũng được chuyển hoàn toàn cho máy móc.
VIỆT NAM TRƯỚC BÀI TOÁN HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ
Bên cạnh quan hệ việc làm và quản lý bằng thuật toán, sự phát triển của công nghệ còn làm mờ ranh giới giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi.
Theo bà Nga, người lao động ngày càng có khả năng phải theo dõi, phản hồi các yêu cầu công việc ngoài giờ, thậm chí làm thêm “tự nguyện” nhưng không phải lúc nào cũng có đủ căn cứ để yêu cầu thanh toán.

ThS. Phạm Thanh Nga lưu ý cần phân biệt giữa Công ước ILO và pháp luật Việt Nam. Việc ILO thông qua Công ước 193 không có nghĩa toàn bộ các quy định trong Công ước tự động trở thành pháp luật Việt Nam. Công ước đặt ra tiêu chuẩn quốc tế, còn việc áp dụng trong nước phụ thuộc vào quá trình của Việt Nam theo pháp luật quốc gia và các nghĩa vụ quốc tế liên quan.
Dù vậy, theo bà, Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là đối với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng.
Một vấn đề ngày càng được quan tâm là quyền “ngắt kết nối”, cho phép người lao động từ chối đọc, trả lời email, tin nhắn hoặc cuộc gọi liên quan đến công việc ngoài giờ nhằm bảo vệ thời gian nghỉ ngơi và ranh giới giữa công việc với đời sống cá nhân.
Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động 2019 chưa quy định riêng về quyền ngắt kết nối. Tuy nhiên, pháp luật đã có các quy định liên quan đến thời giờ làm việc, nghỉ ngơi và tiền lương làm thêm giờ. Người sử dụng lao động phải xác định thời gian làm việc, nghỉ ngơi và làm thêm trong nội quy; người lao động có quyền được trả lương khi làm thêm giờ.
Theo bà Nga, nếu quyền ngắt kết nối được luật hóa, quy định cần được thiết kế theo hướng cân bằng giữa quyền nghỉ ngơi của người lao động và yêu cầu vận hành của doanh nghiệp, đồng thời xác định rõ các trường hợp ngoại lệ và cơ chế liên lạc ngoài giờ.
Điều này đặc biệt quan trọng với những ngành phải duy trì hoạt động liên tục hoặc xử lý tình huống khẩn cấp như y tế, cứu hộ, phòng cháy chữa cháy, cũng như những công việc phục vụ khách hàng ở nhiều múi giờ.
Tuy nhiên, đối với lao động nền tảng, bài toán pháp lý còn rộng hơn. Công ước 193 hướng tới việc thúc đẩy chính thức hóa việc làm qua nền tảng số, trong đó có các biện pháp liên quan đến đăng ký người lao động tự làm chủ. Mục tiêu là đưa lao động nền tảng vào các khuôn khổ pháp luật, thuế và an sinh xã hội, thay vì để một bộ phận người lao động đứng ngoài hệ thống bảo vệ.
Bà Nga cũng lưu ý, cần phân biệt giữa Công ước ILO và pháp luật Việt Nam. Việc ILO thông qua Công ước 193 không có nghĩa toàn bộ các quy định trong Công ước tự động trở thành pháp luật Việt Nam. Công ước đặt ra tiêu chuẩn quốc tế, còn việc áp dụng trong nước phụ thuộc vào quá trình của Việt Nam theo pháp luật quốc gia và các nghĩa vụ quốc tế liên quan.
Dù vậy, theo bà, Công ước 193 có giá trị tham khảo lớn đối với quá trình hoàn thiện chính sách tại Việt Nam, nhất là đối với tài xế công nghệ, người giao hàng, freelancer và những người làm việc qua ứng dụng.
Các vấn đề như xác định quan hệ lao động, tiền công, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, khóa tài khoản và quản lý bằng thuật toán, AI sẽ ngày càng cần được xem xét trong một khung chính sách thống nhất.
Bảo Bình
1 giờ trước
4 giờ trước
1 giờ trước
6 phút trước
31 phút trước
35 phút trước
39 phút trước
43 phút trước
46 phút trước
48 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước