Hòa giải ở cơ sở - tạo dựng văn hóa đồng thuận từ cộng đồng
Từ giải quyết mâu thuẫn đến bồi đắp văn hóa đồng thuận
Trong đời sống xã hội, mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi. Đó có thể là bất đồng về ranh giới đất đai, lối đi chung, vay mượn tài sản, tiếng ồn, môi trường…; cũng có thể là những khúc mắc trong quan hệ gia đình, họ hàng, láng giềng hoặc những va chạm phát sinh từ cách ứng xử trên không gian mạng… Điều quan trọng đối với một cộng đồng không phải là hoàn toàn không có mâu thuẫn, mà là cộng đồng ấy lựa chọn cách thức nào để giải quyết mâu thuẫn.
Có những bất đồng ban đầu rất nhỏ, nhưng do thiếu đối thoại, thiếu người trung gian có uy tín hoặc không được xử lý kịp thời, đã tích tụ thành tranh chấp kéo dài, khiếu kiện, thậm chí vi phạm pháp luật. Ngược lại, nhiều vụ việc tưởng như phức tạp lại được tháo gỡ khi các bên lắng nghe, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, nhìn nhận lợi ích lâu dài của gia đình và cộng đồng. Chính ở điểm này, hòa giải ở cơ sở thể hiện giá trị đặc biệt của mình: không chỉ giải quyết một vụ việc mà còn hàn gắn những mối quan hệ xã hội.

Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Ảnh: Hoa Lê
Sau hơn 12 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, mạng lưới hòa giải đã phát triển rộng khắp. Tính đến cuối năm 2025, cả nước có 85.855 tổ hòa giải với 547.235 hòa giải viên. Trong giai đoạn 2014 - 2025, các tổ hòa giải đã tiếp nhận hơn 1,5 triệu vụ việc; tỷ lệ hòa giải thành đạt 81,92%. Đằng sau những con số đó là hàng triệu cuộc trò chuyện, thuyết phục, chia sẻ; rất nhiều mâu thuẫn được giải quyết ngay tại cộng đồng; nhiều gia đình tránh được đổ vỡ, nhiều quan hệ xóm giềng được khôi phục; và nhiều nguy cơ mất an ninh, trật tự được ngăn chặn từ sớm.
Vì thế, sẽ chưa đầy đủ nếu chỉ xem hòa giải ở cơ sở là một phương thức xử lý tranh chấp ngoài Tòa án. Xét từ góc độ văn hóa, đây còn là phương thức thực hành những giá trị tốt đẹp của dân tộc như trọng nghĩa tình, đề cao sự khoan dung, “chín bỏ làm mười”, tôn trọng người cao tuổi, người có uy tín và gìn giữ sự hòa thuận trong cộng đồng. Xét từ góc độ quản trị xã hội, hòa giải phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, khả năng tự quản của cộng đồng và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với môi trường sống chung. Xét từ góc độ pháp luật, đây là con đường đưa các quy định của Nhà nước đến với người dân bằng phương thức gần gũi, dễ hiểu và thuyết phục.
Hòa giải đúng nghĩa phải dựa trên tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên; đồng thời không được trái pháp luật, đạo đức xã hội, lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích công cộng. Sự đồng thuận được hình thành qua hòa giải phải là kết quả của lắng nghe, đối thoại và hài hòa lợi ích, chứ không phải là sự im lặng vì áp lực cộng đồng.
Tinh thần ấy rất gần với thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI: Đồng thuận xã hội không phải là sự im lặng hình thức; đồng thuận phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, lắng nghe, đối thoại, giải quyết hài hòa lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Đây cũng chính là chiều sâu văn hóa của hòa giải ở cơ sở. Một kết quả hòa giải thành không chỉ được đo bằng việc các bên ký vào biên bản hay chấm dứt khiếu nại, mà còn phải được đánh giá bằng mức độ tự nguyện, sự phục hồi lòng tin và khả năng tiếp tục chung sống, hợp tác sau mâu thuẫn. Nếu tranh chấp tạm thời khép lại nhưng một bên cảm thấy bị ép buộc, bị định kiến hoặc không được bảo vệ, thì sự đồng thuận ấy khó bền vững.

ĐBQH Bùi Hoài Sơn phát biểu tại cuộc làm việc giữa Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Xã hội với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Ảnh: Djuang Niê
Thực tiễn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 cũng cho thấy, một số quy định chưa quan tâm đầy đủ đến người yếu thế; phạm vi bảo mật thông tin còn hẹp; cơ chế huy động người có chuyên môn tham gia chưa rõ; chất lượng đội ngũ hòa giải viên chưa đồng đều. Ở một số nơi, việc kiện toàn tổ hòa giải còn mang tính hình thức; kinh phí, điều kiện hoạt động và công tác bồi dưỡng chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Sửa đổi toàn diện Luật lần này, vì thế, hướng đến một mục tiêu rộng hơn: xây dựng một thiết chế hòa giải vừa kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, vừa phù hợp với xã hội hiện đại; vừa phát huy uy tín và kinh nghiệm của người dân, vừa bảo đảm tính chuyên môn, pháp lý; vừa giữ được sự gần gũi, linh hoạt, vừa bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Để hòa giải trở thành thiết chế cộng đồng hiện đại, nhân văn
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), trình Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, có nhiều điều chỉnh quan trọng, cho thấy hòa giải ở cơ sở đang được đặt trong tổng thể đổi mới quản trị quốc gia, vận hành chính quyền địa phương theo mô hình mới và phát huy mạnh mẽ hơn vai trò tự quản của cộng đồng.
Dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc hòa giải không thay thế biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự; không được lợi dụng hòa giải để trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước, tổ chức và cá nhân khác. Quy định này rất cần thiết để phân biệt giữa sự khoan dung với bỏ qua sai phạm, giữa tình làng nghĩa xóm với tâm lý bao che, né tránh pháp luật.
Trong đời sống cộng đồng, đôi khi vẫn tồn tại quan niệm cho rằng việc gia đình, dòng họ hay làng xóm nên “đóng cửa bảo nhau”, không nên để cơ quan có thẩm quyền can thiệp. Cách nghĩ này có thể phù hợp với những bất đồng dân sự nhỏ, nhưng sẽ nguy hiểm nếu được áp dụng đối với bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, cưỡng ép, đe dọa hoặc những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Hòa giải phải góp phần ngăn chặn hành vi sai trái, bảo vệ người bị tổn thương, chứ không thể trở thành lý do để yêu cầu nạn nhân tiếp tục chịu đựng nhằm giữ một sự yên ổn bề ngoài.
Vì vậy, yêu cầu bình đẳng giới, không phân biệt đối xử và bảo vệ người yếu thế cần được thể hiện xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động hòa giải. Việc dự thảo Luật yêu cầu tổ hòa giải có thành viên nữ; bảo đảm quyền sử dụng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số, ngôn ngữ ký hiệu hoặc hình thức giao tiếp phù hợp với người khuyết tật; bố trí người phiên dịch khi cần thiết… là bước tiến đáng ghi nhận. Không thể có hòa giải bình đẳng nếu một bên không thể diễn đạt đầy đủ ý kiến của mình, không được lắng nghe hoặc phải tham gia trong tâm thế sợ hãi, lệ thuộc.

Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) đặt hòa giải ở cơ sở trong tổng thể đổi mới quản trị quốc gia, vận hành chính quyền địa phương theo mô hình mới và phát huy mạnh mẽ hơn vai trò tự quản của cộng đồng. Ảnh: TH
Cùng với đó, bảo mật thông tin được xem là một điều kiện tạo nên niềm tin. Người dân chỉ có thể chia sẻ trung thực về những khúc mắc gia đình, tài sản, đời sống riêng tư hoặc hoạt động kinh doanh khi họ tin rằng thông tin của mình không bị tiết lộ, xuyên tạc hoặc sử dụng vào mục đích khác. Việc mở rộng nghĩa vụ bảo mật sang bí mật kinh doanh, bí mật nhà nước và những thông tin khác được pháp luật bảo vệ sẽ giúp hoạt động hòa giải chặt chẽ, chuyên nghiệp hơn.
Vấn đề tiếp theo là nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên. Hòa giải viên trước hết phải là người có phẩm chất đạo đức, uy tín, tinh thần trách nhiệm và khả năng thuyết phục. Nhưng trong xã hội hiện đại, chỉ có uy tín và kinh nghiệm sống là chưa đủ. Nhiều tranh chấp hiện nay liên quan đến đất đai, thừa kế, giao dịch dân sự, môi trường, bạo lực gia đình, quyền trẻ em, dữ liệu cá nhân hoặc cách ứng xử trên mạng xã hội, đòi hỏi người hòa giải phải có kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý tình huống. Bên cạnh đó, cần có cơ chế mời luật gia, nhà tâm lý học, nhân viên công tác xã hội, người am hiểu phong tục, tôn giáo hoặc chuyên gia trong từng lĩnh vực hỗ trợ những vụ việc cần thiết.
Một điểm đáng chú ý khác là sự thay đổi trong cách tiếp cận về nguồn lực. Tờ trình đề xuất chuyển từ Nhà nước “hỗ trợ kinh phí” sang ngân sách nhà nước “bảo đảm kinh phí” cho công tác hòa giải ở cơ sở. Đây không đơn thuần là thay đổi câu chữ, mà phản ánh nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm của Nhà nước đối với một nhiệm vụ thường xuyên, có vai trò trực tiếp trong giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Một vụ việc được giải quyết từ sớm có thể giúp giảm nhiều chi phí cho người dân và bộ máy nhà nước, hạn chế đơn thư, khiếu kiện, tố cáo, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tránh những tổn thương kéo dài trong quan hệ gia đình, cộng đồng. Theo nghĩa đó, đầu tư cho hòa giải là đầu tư cho bình yên xã hội; là dùng nguồn lực phòng ngừa tương đối nhỏ để tránh những hậu quả kinh tế, pháp lý và tinh thần lớn hơn.

Các thành viên của Tổ Hòa giải khu phố Tân Thủy (phường Xuân Lập, Đồng Nai) sẵn sàng tiếp nhận và lắng nghe ý kiến phản ánh của người dân. Ảnh: An Nhơn
Tuy nhiên, bảo đảm nguồn lực không đồng nghĩa với hành chính hóa hòa giải. Tổ hòa giải không nên trở thành một tầng nấc mới của bộ máy, còn hòa giải viên cũng không phải công chức thực hiện một quy trình cứng nhắc. Sức mạnh của hòa giải nằm ở sự gần dân, hiểu dân, linh hoạt và uy tín cộng đồng. Điều cần thiết là Nhà nước bảo đảm kinh phí, tài liệu, tập huấn và công cụ hỗ trợ, trong khi người dân vẫn là chủ thể lựa chọn hòa giải viên, tham gia giải quyết mâu thuẫn và giám sát hoạt động hòa giải.
Chuyển đổi số cũng được tiếp cận theo tinh thần đó. Dự thảo Luật cho phép hòa giải trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, xây dựng hệ thống quản lý và lưu trữ kết quả hòa giải. Những giải pháp này có thể tạo thuận lợi cho người dân đi làm xa, các bên cư trú ở địa bàn khác nhau hoặc những khu vực có điều kiện giao thông khó khăn.
Song công nghệ không thể thay thế hoàn toàn sự thấu cảm giữa con người với con người. Thuật toán có thể hỗ trợ tìm kiếm quy định pháp luật, chuẩn hóa biểu mẫu hoặc kết nối các bên, nhưng không thể tự mình nhận biết đầy đủ những khoảng lặng, tổn thương, mặc cảm và tình cảm phức tạp trong một vụ việc gia đình hay cộng đồng. Chuyển đổi số phải làm cho hòa giải thuận tiện hơn, minh bạch hơn, chứ không được làm mất đi tính người vốn là linh hồn của thiết chế này.
Trong mô hình chính quyền địa phương mới, cấp xã cần thực sự trở thành trung tâm tổ chức và hỗ trợ hoạt động hòa giải. Đây là cấp gần dân nhất, nắm rõ nhất đặc điểm dân cư, phong tục, những người có uy tín và các mâu thuẫn tiềm ẩn trên địa bàn. Tuy nhiên, giao trách nhiệm phải đi cùng nguồn lực, hướng dẫn nghiệp vụ, cơ sở dữ liệu và cơ chế phối hợp giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, công an, các đoàn thể và tổ hòa giải. Phân cấp mà không bảo đảm điều kiện thực hiện sẽ khó tạo ra hiệu quả thực chất.
Tạo dựng các cộng đồng đoàn kết và hạnh phúc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc, từ lợi ích chính đáng của Nhân dân”; hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp. Tinh thần này cần được quán triệt trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).
Một đạo luật tốt không chỉ tạo ra thêm những quy trình, biểu mẫu hoặc báo cáo, mà phải giúp người dân dễ tiếp cận hòa giải hơn; hòa giải viên có đủ năng lực và điều kiện hoạt động hơn; người yếu thế được bảo vệ tốt hơn; mâu thuẫn được nhận diện và xử lý sớm hơn; kết quả hòa giải được tôn trọng và thực hiện bền vững hơn.
Sâu xa hơn, thành công của Luật cần được đo bằng việc hình thành một văn hóa ứng xử mới trước bất đồng: biết kiềm chế thay vì kích động, biết lắng nghe thay vì quy kết, biết đối thoại thay vì đối đầu, biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi nhưng không phá vỡ những mối quan hệ xã hội có thể hàn gắn. Khi mỗi gia đình, khu dân cư có khả năng giải quyết mâu thuẫn một cách dân chủ, nhân văn và đúng pháp luật, chúng ta không chỉ giảm tải cho các cơ quan nhà nước mà còn tạo dựng những cộng đồng đoàn kết, an toàn và hạnh phúc.
Đó cũng là ý nghĩa lớn nhất của việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở lần này: không chỉ hoàn thiện một phương thức giải quyết tranh chấp, mà còn kiến tạo văn hóa đồng thuận từ cộng đồng - nơi pháp luật được tôn trọng, đạo lý được phát huy, khác biệt được lắng nghe và niềm tin xã hội được bồi đắp từ những điều gần gũi nhất trong cuộc sống.
Bùi Hoài Sơn - ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội
1 giờ trước
1 ngày trước
21 ngày trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 giờ trước
52 phút trước
4 phút trước
43 phút trước
44 phút trước
56 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước