Hóa giải điểm nghẽn thể chế, khơi thông động lực đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026, việc phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết. Từ góc nhìn nghiên cứu, GS.TS. Nguyễn Đông Phong và TS. Nguyễn Kim Đức (Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - UEH) đã phân tích những điểm nghẽn đang cản trở động lực đầu tư, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tư nhân và đề xuất các định hướng chính sách nhằm khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng.
Việt Nam đặt mục tiêu bước vào kỷ nguyên vươn mình với kỳ vọng tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026. Trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo GS.TS. Nguyễn Đông Phong và TS. Nguyễn Kim Đức, nếu không hóa giải kịp thời các điểm nghẽn đang tồn tại trong khu vực kinh tế tư nhân, mục tiêu tăng trưởng này sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Từ kết quả nghiên cứu độc lập được thực hiện từ năm 2025 thông qua khảo sát và phỏng vấn sâu các lãnh đạo doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, nhóm tác giả đã phân tích những điểm nghẽn cốt lõi đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời đề xuất các định hướng chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.
Bốn điểm nghẽn của khu vực kinh tế tư nhân và mối liên hệ mang tính hệ thống
Theo Báo cáo Kinh tế tư nhân 2025 của Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), bốn điểm nghẽn lớn của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay gồm: thị trường đầu ra, tiếp cận vốn, minh bạch và dự báo chính sách, cùng với chi phí không chính thức. Từ góc độ nghiên cứu, nhóm tác giả cho rằng các điểm nghẽn này không tồn tại độc lập mà là một hệ quả dây chuyền có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Về thị trường đầu ra, sự suy giảm tổng cầu toàn cầu cùng với các tiêu chuẩn mới về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và số hóa đang tạo áp lực lớn lên khả năng duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Mặc dù có sự am hiểu thị trường nội địa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn còn hạn chế trong việc đáp ứng các yêu cầu để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đối với vấn đề tiếp cận vốn, đây vẫn là một trong những điểm nghẽn mang tính truyền thống của khu vực doanh nghiệp tư nhân. Nhiều doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng thiếu vốn dài hạn nhưng khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp hoặc hệ thống báo cáo tài chính chưa được chuẩn hóa. Theo nhóm tác giả, vốn không chỉ được hiểu là nguồn lực tài chính hay đất đai mà còn bao gồm khả năng hấp thụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những hạn chế này càng trở nên nghiêm trọng đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, sự bất định trong dự báo chính sách và tình trạng quy định chồng chéo tại các địa phương đang làm gia tăng rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp. Để tự bảo vệ hoặc đẩy nhanh quá trình xử lý thủ tục, doanh nghiệp có thể phải chấp nhận các chi phí không chính thức. Điều này không chỉ làm gia tăng chi phí hoạt động mà còn làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn.
Theo nhóm nghiên cứu, nếu các điểm nghẽn này không được tháo gỡ kịp thời, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Một mặt, khu vực tư nhân hiện vẫn chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ với năng lực quản trị còn hạn chế, khó tích lũy tư bản để mở rộng quy mô nếu không được khơi thông các nguồn lực về vốn và đất đai. Mặt khác, môi trường kinh doanh thiếu tính ổn định khiến nhiều doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn chiến lược phòng thủ, ưu tiên dòng tiền ngắn hạn hoặc các lĩnh vực đầu cơ thay vì đầu tư vào công nghệ, hạ tầng xanh hay chuyển đổi số.
Thể chế là điểm nghẽn cần ưu tiên tháo gỡ
Dựa trên khung lý thuyết phát triển khu vực tư nhân của Miyamoto và Chiofalo (2017), nhóm tác giả đề xuất tiếp cận các điểm nghẽn theo ba tầng nấc gồm: tầng thượng nguồn (thể chế và chính sách), tầng trung nguồn (vận hành thị trường) và tầng hạ nguồn (năng lực nội tại của doanh nghiệp).
Trong đó, tầng thượng nguồn được xác định là nhóm ưu tiên hàng đầu bởi đây là nơi phản ánh các điểm nghẽn về thể chế, minh bạch và khả năng dự báo chính sách. Theo nhóm nghiên cứu, thể chế là yếu tố định hình hành vi thị trường, do đó việc tháo gỡ các rào cản cần bắt đầu từ thay đổi tư duy lập pháp theo hướng chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, hạn chế tối đa việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế thuần túy và thực hiện cơ chế một cửa thực chất.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật cần được xây dựng theo hướng linh hoạt và có khả năng thích ứng cao hơn trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các văn bản pháp luật cần chuyển từ cách tiếp cận mang tính quy định chi tiết sang cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc nhằm hạn chế nguy cơ lạc hậu và tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh mới phát triển.
Theo nhóm tác giả, khi tầng thượng nguồn được khơi thông, những rào cản ở tầng trung nguồn cũng sẽ được tháo gỡ. Một môi trường chính sách minh bạch và ổn định sẽ giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý, tạo điều kiện để các nguồn lực như vốn, đất đai, công nghệ và cơ hội phát triển được phân bổ hiệu quả hơn theo cơ chế thị trường. Từ đó, doanh nghiệp có thể tập trung nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường.
Mở rộng không gian chính sách cho đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp
Theo nhóm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để khu vực tư nhân mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu, công nghệ và các mô hình kinh doanh mới, cần có những thay đổi mang tính đột phá trong chính sách.
Một trong những giải pháp được đề xuất là xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với các nguyên tắc rõ ràng, cho phép doanh nghiệp được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những quy định chưa kịp điều chỉnh nếu rủi ro phát sinh không xuất phát từ hành vi trục lợi. Đồng thời, cần đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả đề xuất mở rộng không gian vốn mạo hiểm thông qua các quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh có sự tham gia của cả khu vực công và khu vực tư. Các chính sách ưu đãi thuế cũng cần chuyển từ ưu đãi dựa trên doanh thu và lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Nhà nước cũng cần đóng vai trò kiến tạo thị trường thông qua các cơ chế mua sắm công, ưu tiên sử dụng các sản phẩm và giải pháp công nghệ do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và phát triển. Đồng thời, việc tăng cường phân cấp và phân quyền cho các địa phương sẽ giúp khai thác tốt hơn lợi thế đặc thù của từng vùng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường và giải quyết các thủ tục hành chính.
Minh bạch và khả năng dự báo chính sách - điểm nghẽn lớn nhất đối với đổi mới sáng tạo
Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, trong số các điểm nghẽn hiện nay, vấn đề minh bạch và khả năng dự báo chính sách có tác động lớn nhất đến động lực đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân.
Bản chất của đổi mới sáng tạo là chấp nhận rủi ro, thử nghiệm cái mới và cần thời gian dài để thu hồi vốn. Nếu môi trường chính sách thiếu tính ổn định, quy định chồng chéo hoặc thay đổi đột ngột, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc đánh giá rủi ro pháp lý và xây dựng các chiến lược đầu tư dài hạn. Khi đó, lựa chọn phổ biến sẽ là các hoạt động kinh doanh ngắn hạn thay vì đầu tư cho nghiên cứu và phát triển hay đổi mới công nghệ.
Để giải quyết điểm nghẽn này, nhóm tác giả cho rằng cần đổi mới tư duy quản lý theo hướng chuyển từ quản lý bằng quy trình, thủ tục sang quản lý dựa trên hiệu quả và hiệu năng; tăng cường minh bạch hóa chính sách; đồng thời nâng cao vai trò tư vấn, hướng dẫn và truyền thông chính sách để doanh nghiệp có thể chủ động thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Thực chất hóa mô hình liên kết “ba nhà” trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nền kinh tế thành công đã xây dựng được cơ chế liên kết hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu. Đài Loan phát triển mạnh nhờ mô hình liên kết giữa nhà nước, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ; trong khi Hàn Quốc thể hiện rõ vai trò kiến tạo của Nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và đổi mới sáng tạo.
Đối với Việt Nam, nhóm nghiên cứu cho rằng cần thực chất hóa mô hình liên kết “ba nhà” thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro, đặt hàng công nghệ và hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Xa hơn, mô hình này có thể được phát triển thành mô hình hợp tác 4P (Public - Private - People - Partnership), huy động sự tham gia của khu vực công, khu vực tư, giới học thuật và cộng đồng để tạo động lực phát triển toàn diện và lâu dài cho nền kinh tế.
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đông Phong, TS. Nguyễn Kim Đức -
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là bài viết nằm trong chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng với thông điệp “Research Contribution For All - Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng” do UEH phối hợp cùng Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa thực hiện nhằm mục tiêu đồng hành cùng sự phát triển bền vững của tỉnh Khánh Hòa. UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin Tri thức khoa học tiếp theo.
Tin, ảnh: UEH
Giọng đọc: Thanh Kiều
5 ngày trước
11 ngày trước
13 ngày trước
13 ngày trước
17 ngày trước
21 ngày trước
24 ngày trước
24 ngày trước
24 ngày trước
28 ngày trước
28 ngày trước
3 giờ trước
2 giờ trước
9 phút trước
15 phút trước
21 phút trước
52 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước