Hồ sơ số 33/2026: Danh sách 20 liệt sĩ hy sinh trong đêm 28/10/1967 tại Lộc Ninh và địa chỉ thân nhân

Danh tính của 20 liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, được lập ngày 15/11/1967 đã dần sáng tỏ sau gần sáu thập kỷ. Mong rằng những thông tin dưới đây sẽ đến được với thân nhân, đồng đội và những người từng trực tiếp chiến đấu tại mặt trận này.
Hồ sơ F034603250553 không chỉ ghi họ tên, năm sinh, quê quán, đơn vị, mà còn ghi cả tên cha mẹ, vợ con, quá trình tham gia cách mạng, khen thưởng và trong một số trường hợp còn lưu lại địa điểm mai táng hoặc người được đơn vị giao trách nhiệm báo tin cho gia đình.
1- Danh sách 20 liệt sĩ và địa chỉ thân nhân
1.Trần Văn Rễ (bí danh Bảng hoặc Bàng), sinh năm 1947, Tiểu đội phó thuộc B11/T19, quê xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã An Ngãi Trung, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Trần Văn Gạc, mẹ là Nguyễn Thị The. Hồ sơ ghi rõ ông được mai táng tại cao điểm 150 Lộc Ninh. Đây là một trong số rất ít trường hợp còn lưu được địa điểm an táng tương đối cụ thể, có giá trị quan trọng cho việc đối chiếu thực địa sau này.
2. Nguyễn Văn Hưởng (bí danh Hải), sinh năm 1948, Tiểu đội phó B11/T19, quê xã Thạnh Mỹ, huyện Mỹ An, tỉnh Kiến Phong (nay thuộc xã Thanh Mỹ, tỉnh Đồng Tháp). Cha là Nguyễn Văn Phúc, mẹ là Nguyễn Thị Bùi. Hồ sơ cũng ghi ông được an táng tại cao điểm 150 Lộc Ninh, đồng thời cho biết ông là tín đồ Phật giáo. Những chi tiết tưởng như nhỏ ấy hôm nay lại trở thành dấu mốc quý giá để thân nhân nhận diện người thân của mình.
3. Phạm Văn Tám (bí danh Quyết Tâm), sinh năm 1927, Đại đội trưởng B13/T19. Ông là một trong những cán bộ chỉ huy cao cấp nhất hy sinh trong trận đánh này. Quê xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Nhuận Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Phạm Văn Chưởng, mẹ là Lê Thị Còn. Hồ sơ còn ghi rõ ông đã được tặng nhiều huân, huy chương, bằng khen và có ghi chú: "Báo tin cho chị Phạm Thị Từ". Đây là chi tiết rất có giá trị đối với việc tìm kiếm thân nhân hiện nay.
4. Phạm Văn Thỉnh (bí danh Hùng), sinh năm 1938, Đại đội phó B13/T19. Quê xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cha Phạm Văn Sính, mẹ Lê Thị Sảnh. Là một đảng viên có nhiều năm chiến đấu, ông đã được tặng hai Bằng khen trước khi hy sinh trong trận Lộc Ninh.
5. Ngô Văn Giai (còn ghi là Giao, bí danh Mạnh), sinh năm 1939, Chính trị viên phó Đại đội B13/T19. Quê xã Tân Phú Trung, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Thạnh Trị, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Ngô Văn Quyền, mẹ là Trương Thị Đằng. Hồ sơ ghi ông từng được tặng Bằng khen và nhiều Giấy khen trong quá trình công tác. Sự hy sinh của một Chính trị viên phó ngay trong trận đánh đã cho thấy mức độ ác liệt của cuộc chiến.
6. Lê Văn Cát (bí danh Chiến), sinh năm 1941, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha Lê Văn Nhỏ, mẹ Nguyễn Thị Sớm. Là đảng viên được kết nạp năm 1967, ông từng nhiều lần được khen thưởng trước khi ngã xuống tại Lộc Ninh.
7. Võ Văn Chính (bí danh Hùng Sơn), sinh năm 1947, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Cha Võ Văn Lầm, mẹ Trần Thị Cấn. Hồ sơ còn lưu một chi tiết rất đời thường: trước trận đánh, ông còn mượn của đơn vị 700 đồng. Gần sáu mươi năm sau, con số nhỏ ấy khiến người đọc càng cảm nhận rõ hơn cuộc sống bình dị của người lính trước giờ xung trận.
8. Nguyễn Văn Thông (bí danh Hoàng Phương), sinh năm 1939, Trung đội trưởng B13/T19. Quê xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Cha Nguyễn Văn Huýnh, mẹ Nguyễn Thị Ba. Là một cán bộ chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, ông từng được tặng Bằng khen và Giấy khen trước khi anh dũng hy sinh.
9. Nguyễn Kim Lai (bí danh Thanh Sơn), sinh năm 1942, Trung đội phó B13/T19. Quê xã An Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cha đã mất, mẹ là Trương Thị Tiết. Hồ sơ cho thấy ông là đảng viên chính thức từ năm 1965 và từng nhiều lần được khen thưởng.
10. Nguyễn Văn Trang (bí danh Minh), sinh năm 1937, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (nay thuộc tỉnh Tây Ninh). Khác với nhiều đồng đội, hồ sơ không còn ghi tên cha mẹ mà chỉ còn thông tin vợ là Bùi Thị Nổi và anh (hoặc em) Nguyễn Văn Khỏe. Đó có thể sẽ là những đầu mối quý giá nếu gia đình hoặc dòng họ vẫn còn lưu giữ ký ức về người chiến sĩ đã hy sinh trong trận Lộc Ninh năm ấy.

11. Võ Văn Việt (bí danh Chiến Thắng), sinh năm 1948, Tiểu đội phó kiêm cứu thương thuộc B13/T19. Quê xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Nhuận Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Võ Văn Hội, mẹ là Đặng Thị Hơn. Hồ sơ cho biết ông từng được tặng hai Giấy khen và đã được kết nạp Đảng trước khi hy sinh. Dù mang nhiệm vụ cứu thương, ông vẫn trực tiếp chiến đấu và ngã xuống cùng đồng đội trong trận Lộc Ninh.
12. Đỗ Văn Bảy (bí danh Bảy Tiến), sinh năm 1937, Trung đội phó B13/T19. Quê xã Thành An, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Tân Thanh Bình, tỉnh Vĩnh Long). Mẹ là Đỗ Thị Tư, vợ là Huỳnh Thị Cầu. Hồ sơ còn ghi ông từng bị kỷ luật cảnh cáo nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi hy sinh. Chi tiết ấy phản ánh chân thực cuộc sống quân ngũ trong chiến tranh, nơi mỗi con người đều có những câu chuyện rất đời thường nhưng khi Tổ quốc cần, tất cả vẫn sẵn sàng xông lên phía trước.
13. Huỳnh Văn Leo (bí danh Chiến Thắng), sinh năm 1944, Trung đội phó B13/T19. Quê xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Huỳnh Văn Rế (hoặc Quế), mẹ là Đỗ Thị Liễu. Hồ sơ ghi ông từng được tặng bốn Giấy khen trong quá trình công tác trước khi hy sinh.
14. Nguyễn Văn Sảng (bí danh Mỹ), sinh năm 1946, chiến sĩ cứu thương thuộc B13/T19. Quê xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (nay thuộc xã Nhật Thảo, tỉnh Tây Ninh). Cha là Nguyễn Văn Giai, mẹ là Đặng Thị Bảy. Là người làm nhiệm vụ cứu chữa thương binh, ông cũng đã ngã xuống ngay trên chiến trường.
15. Trần Văn Nhung (bí danh Trần Bình), sinh năm 1931, Tiểu đội trưởng B13/T19. Quê xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Giao Long, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Trần Văn Xuyên, mẹ là Trần Thị Hòa. Là một trong những quân nhân lớn tuổi nhất trong danh sách, ông vẫn trực tiếp chiến đấu ở tuyến đầu cho đến phút cuối cùng.
16. Võ Văn Liệt (bí danh Lê Thành), sinh năm 1946, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Võ Văn Mỹ, mẹ là Nguyễn Thị Cúc. Hồ sơ cho biết ông đã được kết nạp Đảng chỉ một tháng trước khi trận đánh diễn ra.
17. Lê Văn Huệ (bí danh Quang), sinh năm 1945, Tiểu đội phó B13/T19. Quê xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đại Điền, tỉnh Vĩnh Long). Cha đã mất, mẹ là Nguyễn Thị Bạch. Trước khi hy sinh, ông đã được tặng bốn Giấy khen vì thành tích trong chiến đấu.
18. Ngô Ngọc Tốt (bí danh Quốc Cường), sinh năm 1948, Tiểu đội phó B14/T19. Quê xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Tân Thành Bình, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Ngô Văn Thứ, mẹ là Phạm Thị Bảo. Ông là một trong hai cán bộ của Trung đội 14 hy sinh trong trận Lộc Ninh.
19. Nguyễn Văn Chôm, sinh năm 1946, Tiểu đội phó thuộc bộ phận Thông tin. Quê xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Nguyễn Văn Huê, mẹ là Nguyễn Thị Tuồng. Là chiến sĩ thông tin, ông đảm nhiệm nhiệm vụ giữ mạch liên lạc cho đơn vị giữa chiến trường ác liệt.
20. Trần Văn Ất (bí danh Phước), sinh năm 1946, Trung đội phó B14/T19. Quê xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long). Cha đã mất, mẹ là Nguyễn Thị Mia. Hồ sơ có một ghi chú đặc biệt: hy sinh trong trận tập kích Mương Cải đêm 1/11/1967, không thu được thi thể. Đây là chi tiết rất đáng chú ý, cho thấy có khả năng ông tiếp tục tham gia một trận chiến khác sau trận Lộc Ninh hoặc việc tổng hợp thương vong của đơn vị diễn ra trong nhiều đợt. Chính vì vậy, trường hợp này rất cần các cựu chiến binh và nhân chứng tiếp tục đối chiếu, xác minh.

2- Mỗi cái tên là một hy vọng được nối lại từ quá khứ tới hiện tại!
Đọc trọn danh sách 20 liệt sĩ, điều khiến các thành viên Dự án TTU-VWAI xúc động không chỉ là số lượng thương vong quá lớn, mà còn là sự đầy đủ hiếm có của các thông tin về gia đình, quê quán và đơn vị. Phần lớn các liệt sĩ quê ở Bến Tre, Long An, Mỹ Tho, Kiến Phong, Rạch Giá..., bên cạnh một số chiến sĩ từ các tỉnh miền Bắc hành quân vào Nam chiến đấu. Nhiều người là cán bộ chỉ huy đã có nhiều năm công tác, nhiều người mới ngoài đôi mươi, vừa được kết nạp Đảng hoặc Đoàn không lâu trước khi hy sinh.
Sau gần sáu mươi năm, những trang tài liệu này không còn đơn thuần là hồ sơ quân sự. Chúng đã trở thành những "địa chỉ ký ức", giúp mở thêm cánh cửa để thân nhân, đồng đội nhận ra người thân của mình.
Chúng tôi tha thiết mong các cựu chiến binh từng chiến đấu tại Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, các nhân chứng ở khu vực Lộc Ninh, Bình Phước và thân nhân của những liệt sĩ có tên trong danh sách trên tiếp tục cung cấp thông tin, tư liệu và ký ức còn lưu giữ. Mỗi chi tiết, dù rất nhỏ, đều có thể góp phần làm sáng tỏ số phận của những người đã ngã xuống và giúp khép lại nỗi chờ đợi kéo dài của biết bao gia đình Việt Nam.
Hà Nội, 07/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)
Đặng Vương Hưng
23 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
11 phút trước
2 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
25 phút trước
46 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước