🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Hồ sơ số 32/2026: Danh sách 11 cán bộ chiên sĩ hy sinh và mất tích ở Lộc Ninh năm 1967

1 giờ trước
Hồ sơ CDEC F034603250553 vừa được các nhà nghiên cứu Tạ Thu Phong và Nguyễn Thị Kim Hoa của Dự án 'Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh' (TTU-VWAI) giải mã. Tài liệu đã hé lộ danh tính của 66 liệt sĩ và quân nhân mất tích, cùng 190 thương binh của Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 tại chiến trường Lộc Ninh năm 1967, rất cần sự chung tay xác minh của cộng đồng.
00:00
00:00

Giữa hàng triệu trang tài liệu chiến tranh đang được lưu giữ tại Hoa Kỳ, mỗi Hồ sơ CDEC không chỉ là một chứng tích lịch sử, mà còn có thể mở ra hy vọng cho những gia đình đã gần sáu mươi năm mòn mỏi đi tìm người thân.

Trong dòng chảy của Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ, mỗi tài liệu được giải mã đều giống như một cánh cửa mở trở lại quá khứ. Có những hồ sơ chỉ ghi vài dòng ngắn ngủi về một trận đánh, nhưng cũng có những hồ sơ lưu giữ đầy đủ tên tuổi, quê quán, người thân, đơn vị chiến đấu, hoàn cảnh hy sinh hoặc mất tích của từng quân nhân.

Hồ sơ CDEC F034603250553 thuộc nhóm tài liệu đặc biệt như vậy. Đây là tài liệu do Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Bộ binh 16, Lữ đoàn 2, Sư đoàn Bộ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 5/2/1968 và lập chỉ mục đầu tháng 3/1968. Bên trong hồ sơ còn lưu nhiều báo cáo nhân sự, danh sách tử sĩ, mất tích của Tiểu đoàn 9 (T19), Trung đoàn 3, Sư đoàn 9 Quân Giải phóng trong các trận chiến ác liệt từ tháng 7 đến tháng 12/1967 ở Tân Uyên, Lộc Ninh và Bù Đốp.

Điều đặc biệt hơn cả là phần lớn các bản danh sách đều ghi khá đầy đủ tên cha, mẹ, quê quán, đơn vị và một số ghi chú liên quan đến việc báo tin cho gia đình. Đây là những dữ liệu vô cùng quý giá để đối chiếu với hồ sơ liệt sĩ hiện nay cũng như kết nối với các cựu chiến binh còn sống.

1- Hai tiểu đội trưởng hy sinh trên đường đi tìm, đón đồng đội bị lạc đơn vị...

Trong bài viết đầu tiên này, chúng tôi xin giới thiệu danh tính 2 liệt sĩ hy sinh ngày 30/7/1967 và 9 quân nhân mất tích trong trận tập kích Chi khu Quân sự Lộc Ninh đêm 28/10/1967, mong nhận được thông tin phản hồi từ thân nhân và đồng đội.

Điều khiến người đọc xúc động nhất trong bản "Báo cáo tử sĩ" lập ngày 4/8/1967 là nguyên nhân hy sinh của hai cán bộ Tiểu đội. Họ không ngã xuống trong một trận xung phong lớn, mà hy sinh khi đi tìm, đón những đồng đội bị lạc đơn vị tại khu vực Trảng Dừa, xã Tân Lập, huyện Tân Uyên (Thủ Dầu Một). Hai người lính ngã xuống trên đường đi tìm đồng đội là những ai?

1. Đỗ Văn Giải (bí danh Tấn Đạt), sinh năm 1941, Tiểu đội phó B12/C9/D7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9. Quê xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Thạnh Phong, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Đỗ Văn Nhì (hoặc Nhũ), mẹ là Nguyễn Thị Phú (hoặc Phán). Hồ sơ ghi rõ ông hy sinh ngày 30/7/1967 khi đi đón đồng đội lạc đơn vị và được mai táng tại xã Tân Lập nhưng không có sơ đồ mộ.

2. Phạm Văn Kỳ, sinh năm 1941, cùng đơn vị với Đỗ Văn Giải. Quê xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Phước Long, tỉnh Vĩnh Long). Cha là Phạm Văn Lần (hoặc Lầu), tức Kỳ Sanh. Ông cũng hy sinh trong cùng hoàn cảnh và được chôn cất tại khu vực Tân Lập, nhưng vị trí ngôi mộ đến nay vẫn chưa xác định được.

Chỉ hai dòng "đi đón đồng đội lạc đường thì bị máy bay bắn" đủ để gợi nên biết bao day dứt. Sau gần sáu mươi năm, rất có thể thân nhân của hai liệt sĩ vẫn chưa từng biết đầy đủ hoàn cảnh hy sinh của người thân mình.

2- Chín người lính mất tích trong trận Lộc Ninh đêm 28/10/1967

Bản danh sách lập ngày 15/11/1967 tiếp tục ghi nhận 9 quân nhân mất tích thuộc Tiểu đoàn 9 trong trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh. Chúng tôi xin giới thiệu trước những trường hợp đầu tiên:

1. Trần Hữu Vui (bí danh Thành), sinh năm 1943, Tiểu đội phó B11/T19. Cha Trần Văn Thời, mẹ Lê Thị Thơi. Quê xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã An Định, tỉnh Vĩnh Long).

2. Võ Văn Xích (bí danh Chiến Thắng), sinh năm 1943, Tiểu đội trưởng B11/T19. Cha Võ Văn Tốt, mẹ Nguyễn Thị Ót. Quê xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Phước Long, tỉnh Vĩnh Long). Hồ sơ còn ghi ông đã được tặng một giấy khen và được kết nạp Đảng tháng 6/1967.

3. Hồ Văn Huê, sinh năm 1943, Tiểu đội phó B11/T19. Cha Hồ Văn Dinh, mẹ Thái Thị Giáo. Quê xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Long Hưng, tỉnh Đồng Tháp).

4. Nguyễn Văn Bình (có thể còn tên khác là Đà), sinh năm 1947, Tiểu đội phó B11/T19. Cha Nguyễn Văn Pha, mẹ Mai Thị Nhờ. Quê xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đại Điền, tỉnh Vĩnh Long). Hồ sơ cho biết ông là đảng viên chính thức từ tháng 10/1966 và từng được tặng giấy khen.

5. Mai Văn Khiêm (bí danh Sơn), sinh năm 1931, Tiểu đội phó B11/T19. Cha Mai Văn Tri, mẹ Phạm Thị Huệ. Quê xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp).

6. Nguyễn Văn Ký, sinh năm 1948, chiến sĩ thuộc B11/T19 (Tiểu đội 11, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn Q763, Sư đoàn 9). Nhập ngũ tháng 9/1966, vào chiến trường miền Nam tháng 2/1967; vào Đoàn tháng 1/1966. Cha là Nguyễn Văn Chinh, mẹ là Trần Thị Tu. Quê xã Kim Ngưu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Hồ sơ xác định ông mất tích sau trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh đêm 28/10/1967. Đây là một trong những chiến sĩ quê miền Bắc hành quân vào Nam chưa đầy một năm thì mất liên lạc với đơn vị.

7. Đàm Trọng Tiên, sinh năm 1949, chiến sĩ thuộc B11/T19. Nhập ngũ tháng 9/1966, vào Nam tháng 2/1967; vào Đoàn tháng 2/1967. Cha là Đàm Trọng Ái, mẹ là Nguyễn Thị Bé. Quê xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Khi mất tích, ông mới mười tám tuổi, thuộc lớp chiến sĩ trẻ nhất trong danh sách của hồ sơ CDEC lần này.

8. Dương Công Thành (bí danh Tâm), sinh năm 1946, Tiểu đội phó thuộc B11/T19. Nhập ngũ tháng 4/1964; vào Đoàn năm 1965; từng được tặng một Giấy khen. Cha là Dương Văn Nghiệp, mẹ là Nguyễn Thị Giàu. Quê xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Phước Mỹ Trung, tỉnh Vĩnh Long). Hồ sơ ghi nhận ông thuộc nhóm cán bộ trung đội mất tích trong trận đánh Lộc Ninh, đến nay vẫn chưa có thông tin xác minh.

9. Lê Ngọc Phương, sinh năm 1940, Hạ sĩ thuộc B11/T19. Tái ngũ tháng 9/1963, vào Nam tháng 2/1967. Cha là Lê Văn Chắc, mẹ là Vũ Thị Gừng. Quê xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Điểm đặc biệt là hồ sơ không còn xếp ông vào diện mất tích mà có ghi chú "đã tìm gặp ở Quân y", cho thấy sau trận chiến, đơn vị đã phát hiện ông còn sống và đang điều trị tại cơ sở quân y. Đây là một chi tiết rất có giá trị, góp phần đối chiếu, kiểm chứng diễn biến thương vong của trận Lộc Ninh cuối tháng 10/1967.

Qua danh sách trên có thể thấy, trong số 09 quân nhân mất tích có nhiều cán bộ trung đội, tiểu đội và chiến sĩ đến từ Bến Tre, Hưng Yên, Mỹ Tho... Hầu hết đều còn rất trẻ, nhiều người mới hành quân vào chiến trường miền Nam chỉ vài tháng trước khi mất liên lạc. Sau gần sáu mươi năm, mỗi thông tin về thân nhân, đồng đội hoặc nhân chứng từng tham gia trận đánh Lộc Ninh đêm 28/10/1967 đều có thể góp phần làm sáng tỏ số phận của họ, đồng thời bổ sung những dữ liệu quý cho công tác tìm kiếm, xác minh danh tính liệt sĩ của Dự án TTU-VWAI.

Hành trình đi tìm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh là công việc lâu dài, đòi hỏi sự chung tay của các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội, các nhà nghiên cứu và đông đảo cộng đồng. Đó không chỉ là trách nhiệm đối với lịch sử, mà còn là bổn phận đối với những người đã hiến dâng tuổi xuân và cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Mỗi cái tên được tìm lại là một gia đình vơi đi nỗi đau. Mỗi thông tin được xác minh là một trang lịch sử được bổ sung. Và mỗi cuộc đoàn tụ giữa ký ức với hiện tại sẽ tiếp tục lan tỏa những giá trị tốt đẹp của Văn hóa tri ân, góp phần thực hiện thành công Chiến dịch 500 ngày đêm, để những người đã ngã xuống không còn lặng lẽ nằm lại trong các kho lưu trữ, mà được trở về trong ký ức của đồng đội, trong vòng tay của gia đình và trong lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay.

Trong 2 bài tới, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu Danh sách 20 liệt sĩ hi sinh trong trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh đêm 28/10/1967. Sau đó là Danh sách 35 quân nhân đã hi sinh và mất tích tại Bù Đốp, cuối năm 1967.

Hà Nội, 06/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)

Đặng Vương Hưng

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ