🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Hệ thống cảnh báo sớm thiên tai cần cải thiện những gì trước biến đổi khí hậu?

10 giờ trước
Biến đổi khí hậu khiến thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường, đòi hỏi nâng cao chất lượng dự báo và cảnh báo sớm. Cục Khí tượng Thủy văn đang triển khai nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại và tăng khả năng thích ứng.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất dày hơn và khó dự báo hơn. Để hiểu rõ hơn về công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, phóng viên có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thượng Hiền - Cục trưởng Cục Khí tượng thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

PV:Thưa ông, dữ liệu khí tượng thủy văn và hệ thống cảnh báo sớm có vai trò như thế nào trong việc giảm thiểu thiệt hại kinh tế trước các đợt mưa lũ bất thường?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Dữ liệu khí tượng thủy văn và hệ thống cảnh báo sớm không chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin dự báo, mà giữ vai trò trung tâm trong toàn bộ chuỗi quản lý rủi ro thiên tai, từ nhận diện nguy cơ đến hỗ trợ ra quyết định và giảm thiểu thiệt hại kinh tế. Trước hết, nhờ dữ liệu thời gian thực và độ chính xác cao, hệ thống giúp phát hiện sớm các hiện tượng mưa cực đoan, lũ quét, ngập lụt, từ đó tạo “thời gian vàng” để triển khai các biện pháp ứng phó như sơ tán dân, vận hành hồ chứa, bảo vệ tài sản và hạ tầng, qua đó giảm đáng kể thiệt hại trực tiếp.

Ông Nguyễn Thượng Hiền (giữa), Cục trưởng Cục Khí tượng thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Quan trọng hơn, việc tích hợp dữ liệu đa nguồn cho phép chuyển từ dự báo hiện tượng sang dự báo tác động cụ thể đến từng khu vực, ngành kinh tế, giúp các địa phương và doanh nghiệp ra quyết định chính xác, tránh gián đoạn sản xuất, logistic và chuỗi cung ứng. Đồng thời, khả năng cảnh báo từ sớm, từ xa với thời gian dài hơn giúp đưa ra được kế hoạch sản xuất phù hợp như điều chỉnh mùa vụ, vận hành hệ thống điện, giao thông…, hạn chế thiệt hại gián tiếp và tổn thất lan truyền.

Như vậy, hệ thống dữ liệu KTTV và cảnh báo sớm không chỉ bảo vệ tính mạng con người mà còn đóng vai trò như một công cụ kinh tế quan trọng, giúp giảm chi phí ứng phó, phục hồi sau thiên tai và bảo đảm ổn định phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh thời tiết ngày càng cực đoan.

PV: Việc dự báo thiên tai trong bối cảnh khí hậu thay đổi nhanh cũng đặt ra nhiều thách thức mới. Công tác dự báo thiên tai hiện nay đang gặp những khó khăn gì khi phải đối mặt với các biến động khí hậu ngày càng phức tạp? Trước những thách thức, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia Cục KTTV đang triển khai những giải pháp gì để cải thiện chất lượng dự báo và cảnh báo sớm?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Trong bối cảnh khí hậu biến đổi nhanh, công tác dự báo thiên tai đang phải đối mặt với nhiều thách thức, như các hiện tượng thời tiết ngày càng cực đoan, diễn biến nhanh, quy mô nhỏ nhưng gây tác động lớn, trong khi yêu cầu dự báo ngày càng chi tiết và kịp thời hơn.

Trước những thách thức đó, Cục Khí tượng Thủy văn đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, trọng tâm là hiện đại hóa hệ thống quan trắc, nâng cấp mạng lưới trạm và radar thời tiết; phát triển các mô hình dự báo số trị với độ phân giải cao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn; đồng thời chuyển mạnh sang cảnh báo sớm dựa trên tác động để phục vụ tốt hơn công tác phòng chống thiên tai.

Bên cạnh đó, Cục cũng tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hợp tác quốc tế, nhằm nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

PV: Một đặc điểm đáng chú ý là các hiện tượng khí hậu cực đoan thường không dừng lại ở phạm vi một địa phương. Các hiện tượng khí hậu cực đoan thường lan theo không gian vùng, không theo ranh giới hành chính. Theo ông, điều này đặt ra yêu cầu gì cho công tác quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn phát triển kinh tế vùng?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Một đặc điểm quan trọng của các hiện tượng khí hậu cực đoan là tính liên vùng và xuyên biên giới quốc gia, không tuân theo ranh giới hành chính, do đó đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ quản lý rủi ro theo địa phương sang tiếp cận tổng thể theo vùng, khu vực và hợp tác quốc tế. Trước hết, cần xây dựng hệ thống chia sẻ, kết nối dữ liệu khí tượng thủy văn theo thời gian thực không chỉ giữa các địa phương trong nước mà còn với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt đối với các lưu vực sông liên quốc gia như sông Hồng, Mê Công, nhằm bảo đảm thông tin dự báo thống nhất, đồng bộ từ thượng nguồn đến hạ du.

Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo, điều hành cần tăng cường phối hợp liên vùng, liên ngành và liên quốc gia, nhất là trong vận hành hồ chứa, điều tiết dòng chảy, ứng phó lũ lớn và bảo vệ các hành lang kinh tế xuyên biên giới, tránh các quyết định cục bộ gây tác động lan truyền. Đồng thời, cần phát triển các kịch bản rủi ro và hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai ở quy mô khu vực, gắn với cơ chế phối hợp quốc tế và chia sẻ, hợp tác thông tin minh bạch. Có thể thấy, trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan và mang tính liên kết cao, việc nâng cao năng lực quản lý rủi ro theo hướng liên kết vùng, hợp tác quốc tế, điều hành thống nhất dựa trên dữ liệu là yêu cầu tất yếu để bảo đảm an toàn và phát triển bền vững kinh tế - xã hội không chỉ ở cấp quốc gia mà còn ở quy mô khu vực.

PV: Trước xu thế khí hậu ngày càng khó lường, việc nâng cao năng lực thích ứng trở thành yêu cầu cấp thiết. Ông có đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để tăng cường năng lực thích ứng của các địa phương và bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Để nâng cao năng lực thích ứng của địa phương và bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, trước hết đối với ngành KTTV cần tiếp tục nghiên cứu nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và hướng tới dự báo dựa trên tác động, cung cấp thông tin trực tiếp hỗ trợ các cấp chính quyền ra quyết định. Đối với các địa phương cần: Đẩy mạnh công tác phát triển mạng lưới khí tượng thủy văn chuyên dùng kết nối thông suốt từ Trung ương đến địa phương; Tích hợp, lồng ghép kịch bản biến đổi khí hậu, bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Phát triển dịch vụ khí hậu cho các lĩnh vực kinh tế trọng điểm như nông nghiệp, năng lượng, giao thông,… nhằm hỗ trợ sản xuất thích ứng; Phát triển hạ tầng thích ứng tăng cường khả năng chống chịu phù hợp với các loại hình thiên tai ở mỗi địa phương; nâng cao năng lực cán bộ địa phương trong khai thác, sử dụng thông tin dự báo. Qua đó, góp phần chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động thích ứng, giảm thiểu rủi ro và bảo đảm phát triển bền vững.

PV: Để ngành khí tượng thủy văn phát huy vai trò tuyến đầu trong dự báo thiên tai, việc đầu tư nguồn lực là yếu tố quan trọng. Để đội ngũ cán bộ ngành khí tượng thủy văn tạo ra đột phá và phát huy vai trò tuyến đầu, theo ông Nhà nước cần tập trung đầu tư những lĩnh vực nào?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Để ngành khí tượng thủy văn thực sự phát huy vai trò “tuyến đầu” và tạo đột phá, theo tôi, cần tập trung đầu tư vào một số lĩnh vực then chốt: Trước hết là hạ tầng quan trắc và dữ liệu, bao gồm hiện đại hóa mạng lưới trạm, radar, vệ tinh, các hệ thống quan trắc cảm biến thế hệ mới cũng như hệ thống thu nhận, xử lý dữ liệu thời gian thực.

Thứ hai là năng lực dự báo, thông qua đầu tư cho mô hình số trị độ phân giải cao, hệ thống tính toán hiệu năng cao (HPC) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn.

Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ, phân tích dữ liệu và cung cấp sản phẩm dự báo chuyên sâu. Đồng thời, cần đầu tư cho hệ thống thông tin, truyền tin và dịch vụ khí hậu, bảo đảm đưa thông tin dự báo, cảnh báo đến đúng đối tượng, đúng thời điểm và gắn với nhu cầu của các ngành, địa phương.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế và chia sẻ dữ liệu để tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực dự báo trong bối cảnh thiên tai ngày càng phức tạp.

PV: Nghị quyết 57 cũng đề cập đến tăng cường hợp tác quốc tế. Ông đánh giá vai trò của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam ra sao?

Ông Nguyễn Thượng Hiền: Từ khi thành lập ngành đến nay, hợp tác quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam, nhất là trong bối cảnh thiên tai ngày càng phức tạp và mang tính xuyên biên giới. Trước hết, đây là kênh quan trọng để tiếp cận công nghệ tiên tiến, mô hình dự báo hiện đại và các nguồn dữ liệu toàn cầu, qua đó nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo trong nước. Đồng thời, hợp tác quốc tế giúp chia sẻ thông tin, dữ liệu, góp phần nâng cao khả năng dự báo từ sớm, từ xa thông qua việc khai thác các sản phẩm dự báo tiên tiến như dự báo tổ hợp, đồng hóa số liệu, mô hình số trị độ phân giải cao, sản phẩm vệ tinh, radar thời tiết và các hệ thống cảnh báo đa thiên tai hiện đại.

Bên cạnh đó, thông qua các chương trình, dự án và mạng lưới quốc tế, ngành KTTV có điều kiện đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, học hỏi kinh nghiệm quản lý và vận hành các hệ thống dự báo, cảnh báo sớm tiên tiến. Hợp tác quốc tế cũng giúp huy động nguồn lực tài chính và kỹ thuật, hỗ trợ hiện đại hóa hạ tầng quan trắc, tính toán, dự báo, cảnh báo….

Có thể khẳng định, hợp tác quốc tế không chỉ giúp nâng cao năng lực chuyên môn mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới công nghệ, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững của ngành khí tượng thủy văn Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Văn Ngân/VOV.VN

TIN LIÊN QUAN























Home Icon VỀ TRANG CHỦ