Liên kết '3 nhà': Mở đường đưa khoa học ra thị trường

Ký kết Thỏa thuận hợp tác “3 nhà” giữa UBND thành phố - Đại học Bách khoa Hà Nội - Tập đoàn Công nghệ CMC, tháng 1-2026. Ảnh: PV
Liên kết “3 nhà”: Trục vận hành của mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức
Nghị quyết số 02-NQ/TƯ đặt ra một yêu cầu phát triển mới đối với Hà Nội: Chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang dựa vào tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong mô hình này, khoa học công nghệ không còn là yếu tố hỗ trợ, mà trực tiếp chi phối cách tổ chức sản xuất, mở ra ngành nghề mới, nâng cấp các ngành truyền thống và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Điều đó kéo theo một thay đổi quan trọng trong cách nhìn nhận giá trị của nghiên cứu khoa học. Nếu trước đây, thành công của hoạt động khoa học chủ yếu được đo bằng số lượng công bố hay đề tài nghiệm thu, thì nay, thước đo quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu vì thế trở thành khâu then chốt.
Để thúc đẩy quá trình này, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp - tổ chức tài chính. Trong thực tiễn, cấu trúc này được vận hành thông qua mô hình hợp tác “3 nhà”: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp.
Mô hình này cho phép gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu của thị trường, đồng thời huy động và tối ưu hóa các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư nền tảng; nhà trường là trung tâm tri thức; còn doanh nghiệp là chủ thể ứng dụng và thương mại hóa và đưa công nghệ ra thị trường.
Thực tế tại Hà Nội cho thấy mô hình này đã có những chuyển động tích cực. Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã hợp tác với doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập và triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ. Các chương trình hợp tác đã đề xuất phát triển hơn 100 sản phẩm công nghệ, trong đó có nhiều sản phẩm thuộc nhóm công nghệ chiến lược. Quy mô đào tạo nhân lực khoa học công nghệ cũng tăng nhanh, với nhóm ngành công nghệ - kỹ thuật chiếm hơn 33% tổng số sinh viên đại học.
Tuy nhiên, mức độ “kết dính” giữa các chủ thể vẫn chưa đạt kỳ vọng. Không ít kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại trong phòng thí nghiệm, chưa đi được tới thị trường. Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn tồn tại, đặc biệt trong các vấn đề về cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ và tổ chức triển khai.
Những điểm nghẽn này phần lớn bắt nguồn từ sự lệch pha về mục tiêu. Doanh nghiệp cần sản phẩm có thể ứng dụng nhanh, mang lại lợi nhuận; trong khi các cơ sở nghiên cứu theo đuổi mục tiêu học thuật dài hạn; còn cơ quan quản lý lại chú trọng hiệu quả đầu tư và tuân thủ quy trình. Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá khoa học vẫn thiên về công bố quốc tế, chưa tạo động lực đủ mạnh cho nghiên cứu ứng dụng.
Hạ tầng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng còn phân tán. Các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu thiếu liên thông; các tổ chức trung gian như trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm hay quỹ đầu tư khoa học công nghệ chưa phát triển tương xứng.
Dù vậy, điểm đáng chú ý là nhiều rào cản về thể chế - vốn là nút thắt lớn nhất - đã và đang được Hà Nội chủ động tháo gỡ theo Luật Thủ đô 2024, tạo ra lợi thế riêng so với các địa phương khác. Việc triển khai Nghị định số 271/2025/NĐ-CP cho phép các tổ chức khoa học công lập sử dụng kết quả nghiên cứu và quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp đã mở ra một hành lang pháp lý quan trọng. Cơ chế hình thành doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) từ trường đại học, viện nghiên cứu cũng dần rõ nét.
Đặc biệt, việc cho phép viên chức tham gia góp vốn, quản lý và điều hành doanh nghiệp với sự đồng ý của đơn vị chủ quản đã tạo ra sự gắn kết trực tiếp giữa nhà khoa học và thị trường. Các quy định về định giá tài sản trí tuệ, sử dụng quỹ phát triển khoa học công nghệ để góp vốn cũng góp phần giải bài toán vốn cho thương mại hóa.
Có thể thấy, thay vì dừng ở việc “đề xuất tháo gỡ”, Hà Nội đã bước sang giai đoạn vận hành cơ chế mới. Những nội dung từng là điểm nghẽn như sở hữu trí tuệ, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu hay vai trò của nhà khoa học trong doanh nghiệp, nay đã có hành lang pháp lý cụ thể. Vấn đề còn lại là tổ chức thực thi hiệu quả, trong đó cần thúc đẩy vai trò đặt hàng của doanh nghiệp, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và phát triển các thiết chế trung gian.

Đội BK-IAV của Đại học Bách khoa Hà Nội tại vòng chung kết Cuộc thi Sáng tạo UAV 2025 – Cup PV GAS. Cuộc thi hướng tới việc tìm kiếm các giải pháp UAV ứng dụng trong nông nghiệp thông minh, giám sát môi trường, logistics, cứu hộ – cứu nạn và an ninh – an toàn. Ảnh PV
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội: Điểm kết nối “3 nhà”
Nếu như các chính sách và nghị định tạo nền tảng thể chế cho liên kết “3 nhà”, thì việc hình thành Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội đánh dấu bước chuyển sang tổ chức thực tiễn, nơi mô hình này được vận hành cụ thể.
Hiện nay, thành phố đã thí điểm mô hình hợp tác “3 nhà” tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội với sự tham gia của các đại diện tiêu biểu: Cơ quan quản lý nhà nước; cơ sở đào tạo - nghiên cứu; doanh nghiệp công nghệ. Các bên phối hợp tổ chức không gian sáng tạo, triển khai hoạt động ươm tạo, đào tạo, triển lãm và thương mại hóa sản phẩm.
Đáng chú ý, Trung tâm không chỉ vận hành trong phạm vi nội địa mà còn được thiết kế theo hướng kết nối quốc tế. Hà Nội đã hợp tác với Đại học Quốc gia Singapore và mạng lưới Block71 để tư vấn mô hình vận hành hiện đại, hỗ trợ chương trình khởi nghiệp, kết nối đầu tư và thu hút chuyên gia quốc tế...
Một bước tiến quan trọng là sự ra đời Công ty CP Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Hà Nội (HiHUB). Đây là một mô hình thể chế mới. Lần đầu tiên, Hà Nội thiết kế một tổ chức đổi mới sáng tạo theo cấu trúc công ty cổ phần có vốn nhà nước nhưng vận hành theo chuẩn mực quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Lễ ra mắt Công ty CP Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Hà Nội (HiHUB)
Trong mô hình này, Nhà nước không can thiệp vi mô vào hoạt động kinh doanh, mà giữ vai trò định hướng và bảo đảm mục tiêu phát triển. Cơ chế vận hành chuyển từ cấp phát hành chính sang đồng đầu tư và chia sẻ rủi ro; từ hỗ trợ rời rạc sang điều phối hệ sinh thái; từ phong trào khởi nghiệp sang chuỗi giá trị có tổ chức, có đo lường bằng kết quả.
Cùng với đó, Trung tâm được thiết kế như một đầu mối điều phối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Thay vì các chương trình phân tán ở nhiều sở, ngành, các dòng chảy đổi mới sáng tạo sẽ được tổ chức lại theo logic thị trường: Từ bài toán thực tiễn của đô thị đến năng lực nghiên cứu của viện - trường; từ ý tưởng khởi nghiệp đến nguồn vốn đầu tư; từ dữ liệu đến sản phẩm và dịch vụ cụ thể.
Ở góc độ vận hành, mô hình “Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” tại HiHUB được thể hiện rõ nét. Trường đại học giữ vai trò hạt nhân nghiên cứu và ươm tạo; doanh nghiệp tham gia vận hành, thương mại hóa và kết nối thị trường; Nhà nước định hướng, tạo hành lang pháp lý và điều phối nguồn lực.
Sự kết hợp này không chỉ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ, mà còn hướng tới giải quyết các bài toán phát triển của Thủ đô, từ đô thị thông minh, kinh tế số đến công nghiệp văn hóa. Đổi mới sáng tạo vì thế không còn là khái niệm trừu tượng, mà trở thành một chuỗi giá trị cụ thể, gắn với nhu cầu thực tiễn.
Nhìn tổng thể, với nền tảng thể chế đã được mở và mô hình vận hành đang được thử nghiệm, Hà Nội đang từng bước hình thành cấu trúc “3 nhà” như một trục vận hành thực sự của nền kinh tế tri thức.
Khi cơ chế đã mở, thiết chế đã hình thành và thị trường bắt đầu tham gia sâu hơn, vấn đề còn lại là tổ chức thực thi đủ nhanh, đủ đồng bộ để chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng thực tế. Nếu làm được điều đó, liên kết “3 nhà” sẽ không chỉ dừng ở một mô hình hợp tác, mà trở thành cấu trúc vận hành cốt lõi của nền kinh tế tri thức tại Thủ đô - đúng với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng mà Nghị quyết số 02-NQ/TƯ đã đặt ra.
Thu Hằng
4 ngày trước
4 ngày trước
28 phút trước
58 phút trước
4 giờ trước
3 phút trước
14 phút trước
40 phút trước
54 phút trước
57 phút trước
58 phút trước